February 17, 2026. NHỮNG MÙA XUÂN TÔI ĐÃ ĐI QUA, Phương Tuấn

 





                                     NHỮNG MÙA XUÂN TÔI ĐÃ ĐI QUA

                                                                                                      Phương Tuấn


Trước hết chúng ta hãy nhìn lại một chút lịch sử. Cuộc chinh phục Việt Nam của Pháp (1858–1885) là một loạt các cuộc viễn chinh quân sự giữa nền Cộng Hòa Pháp thứ hai, sau này là Cộng hòa Pháp thứ ba, chống đế chế Đại Nam vào giữa và cuối thế kỷ 19. Kết quả cuối cùng là chiến thắng của Pháp khi họ đánh bại quân đội Đại Nam vào năm 1885, sáp nhập lãnh thổ Đại Nam, Lào, và Campuchia vào đế chế thuộc địa Pháp, và thành lập Liên bang Đông Dương thuộc Pháp trên lục địa Đông Nam Á vào năm 1887.


Một cuộc viễn chinh chung Pháp-Tây Ban Nha được khởi xướng vào năm 1858 xâm chiếm phố Hàn, sau này thành nhượng địa cho Pháp và người Pháp đặt tên cho thành phố này là Tourane vào tháng 9 năm 1858. Thành phố chỉ mang tên Đà Nẵng từ 1954 trở về sau. 

Chiến dịch đánh chiếm Đại Nam kéo dài bốn năm đã dẫn đến việc Hoàng đế Tự Đức ký hiệp ước vào tháng 6 năm 1862, trao cho Pháp chủ quyền đối với ba tỉnh miền Đông Nam Bộ. Pháp sáp nhập ba tỉnh Miền Tây Nam Bộ vào năm 1867 để thành lập Nam Kỳ. Sau khi củng cố quyền lực ở Nam Kỳ, họ chinh phục phần còn lại của Đại Nam thông qua một loạt các chiến dịch ở Bắc Kỳ từ năm 1873 đến năm 1886. Tham vọng của Pháp nhằm chinh phục Bắc Kỳ đã bị nhà Thanh phản đối, vì khu vực này thuộc phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc.


Cuối cùng, Pháp đã đẩy hầu hết quân đội Trung Quốc ra khỏi Việt Nam, nhưng các nhóm kháng chiến Việt còn lại ở một số tỉnh của Đại Nam vẫn tiếp tục chống lại sự kiểm soát của Pháp đối với Bắc Kỳ. Chính phủ Pháp đã cử Fournier đến Thiên Tân để đàm phán Hiệp ước Thiên Tân, theo đó Trung Quốc công nhận quyền lực của Pháp đối với Bắc Kỳ, từ bỏ tuyên bố chủ quyền đối với Đại Nam. Ngày 6 tháng 6 năm 1884, Hiệp ước Huế được ký kết, chia Đại Nam thành ba vùng: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, mỗi vùng dưới  một chế độ riêng biệt. Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, trong khi Bắc Kỳ và Trung Kỳ là các xứ bảo hộ, và triều đình nhà Nguyễn bị đặt dưới sự giám sát của Pháp.

Có thể nói thời kỳ nhà Nguyễn dưới thời vua Tự Đức là thời kỳ mở mang bờ cõi về phía Tây chiếm một phần của Lào, và về phía Nam chiếm một phần của Campuchia. Bản đồ Đại Nam là bản đồ lớn nhất từ khi khai sinh ra nước Việt bấy giờ.

Tuy vậy đời sống dân chúng không cải thiện bao nhiêu. Những bức tranh và hình còn lại từ giữa đến cuối thế kỷ 19 cho thấy một toàn cảnh khá nghèo khó, nhà tranh vách đất, ngoài một số quan chức và các người giàu, đại đa số dân đi chân đất, áo quần rách rưới.

Thực dân Pháp có bóc lột dân Việt, điều đó không ai phủ nhận, nhưng đồng thời họ cũng mang lại một ít ánh sáng cho dân Việt, bằng cớ là đã chỉnh trang một số thành phố Việt Nam như Hà Nội, Hải Phòng, Tourane, và nhất là Saigon, sau này được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Không thể chối bỏ người Pháp đã đặt nền móng cho những cơ sở y tế như bệnh viện, trường học, và đã mở một Đại Học Y đầu tiên tại Hà Nội năm 1902…

Có thể nói thời gian người Pháp đô hộ, cuộc sống người dân khá an bình và cha ông chúng ta cũng có những mùa xuân vui tươi cho đến khi quân Nhật đổ bộ vào Đông Dương vào khoảng năm 1941.


Những mùa xuân đầu đời của tôi, tại phố Hàn là những năm đã bước vào Thế Chiến 2, nhưng nói chung Việt Nam không mấy bị ảnh hưởng vì vậy, những Tết năm đó vẫn là những Tết dân sống trong an bình. 

Không có chi vui bằng ngày Tết. Những ngày xưa đó đa số dân chúng còn nghèo, ngay gia đình tôi cha làm việc cho một sở tư nhân Pháp, mẹ có tiệm tạp hoá nhỏ, nhưng mức sống cũng chỉ trên trung bình. Áo quần mới chỉ được mẹ may cho những ngày cận tết. Thuở đó không có áo quần hàng hiệu được may sẵn như bây giờ. 

Ăn Tết đối với dân Việt không phải chỉ “ba ngày tết”, nhưng sửa soạn ăn Tết cả tháng trước từ khi bước vào tháng chạp. Các hiệu may làm việc hết công suất từ tháng chạp…

Mẹ tôi là một người rất thực dụng, mẹ tìm đủ cách để làm ra nhiều tiền cho gia đình. Căn phố lầu nằm trước đường Quai Courbet (tên một đô đốc Pháp), sát bến sông Hàn nơi có những con đò nhỏ đưa khách từ các làng chài bên kia phố Hàn qua phố chợ mua hàng hoá, hay đem các phẩm vật được lưới cá từ các làng chài qua bán bên ni sông. Thế là ngoài cửa hàng tạp hoá nhỏ ngay trước hiên nhà, mẹ cho một ông thợ may thuê một góc nhỏ trong căn nhà để mở tiệm may. Tiệm may của ông không có bảng hiệu, không quảng cáo, nhưng khách hàng nườm nượp đến may đo. Nhiều nhất là các bà mẹ đem các em bé từ các làng chài. Tiệm của ông vì vậy treo các hàng vải đủ màu sắc của các khách hàng mang đến. Thế là chiếc máy may Singer cũ kỷ không biết ra đời từ năm nào, lên tiếng hát reo vui như tên của nó “Singer”, “Người ca hát”, ngày đêm hát hết công xuất để mang những chiếc áo quần mới đến cho các em bé quê nghèo. Và tôi là thằng nhóc con vui chung cái vui của các em.

 Tháng chạp quê tôi, gió lạnh về, và ngọn Tiên Sa hay Sơn Chà bên phía trái phố Hàn luôn có mây mù trên đỉnh, như tuyết phủ trắng ngọn Phú Sĩ Nhật Bản. Tháng chạp lạnh nhưng không thiếu cái dễ thương. Tôi ngồi nép bên mẹ, xem mẹ ngào món mứt hạt sen, hay mứt gừng trên chiếc thau bằng nhôm. Mặc cho gió lạnh, tôi như được ấp ủ trong tình thương của mẹ, hơi ấm tỏa từ bếp lò than, và hương thơm của gừng cho tôi cảm giác thật dễ chịu những ngày mùa đông giáp tết. Đã bao nhiêu năm qua  từ ngày mẹ “ra đi”, từ giả đàn con, mỗi lần tháng chạp về tôi lại nhớ đến mẹ.  Tôi đã bước đi bao nhiêu năm tháng từ ngày đó trên cõi trần gian ta bà này, nhưng chẳng bao giờ tìm lại được khoảnh khắc đầy thương yêu dịu dàng của tuổi thơ ngày ấy. Tháng chạp và gió bấc về nhớ mẹ, khóe mắt hoen mi, nhưng mẹ đã đi xa, đi xa, đi rất lâu rồi. Khi các bạn đọc những dòng này, có bạn nào có những kỷ niệm như tôi trong những ngày giáp tết?

 Quả thật mỗi chúng ta chỉ có một người mẹ, khi nhớ về mẹ chúng ta vẫn nôn nao, tiếc nuối rằng ngày xa xưa đó chúng ta chưa yêu, chưa thương mến mẹ hết lòng. Cho tôi sống lại một ngày tuổi thơ giáp tết, gió tháng chạp thổi về, lạnh se sắt nhưng ngồi bên mẹ, hưởng mùi hương mứt gừng và hơi ấm lò than hồng. Cho tôi về lại một ngày để lại nghe tiếng mẹ ru em tôi bên dòng sông Hàn.


                                                                                      Ơ ờ ơ…

Đứng bên ni Hàn 

Ngó qua bên kia Hà Thân

Nước xanh như tàu lá.

Đứng bên kia Hà Thân

 Ngó lại bên ni Hàn

Phố xá nghênh ngang.

Từ ngày Tây lại cửa Hàn

Đào sông Cu Nhí

Bòn vàng Bông Miêu

Ơ ờ ơ…



Tiếng ru em nay đã tan biến lâu rồi trên dòng sông Hàn. Bao nhiêu nước sông từ những năm tháng đó đã trôi ra biển Đông…

Nhớ mẹ tôi nhớ những bữa cơm gia đình có cha và anh chị em tôi. Lạ lùng chẳng bao giờ mẹ gắp miếng ngon trên bàn trước. Mẹ nhường miếng ngon cho chồng cho con, đến khi chồng con gần bỏ đũa, những miếng ngon chót còn lại trên bàn, mẹ mới gắp. Ôi người mẹ của tôi, mẹ chẳng bao giờ được ngồi trên ghế nhà trường để học lễ nghĩa, để học những bài học về sự hy sinh…nhưng mẹ biết sống và hy sinh cho những người mẹ thương mến.


   “Đi khắp thế gian, không ai tốt bằng mẹ.

Gánh nặng cuộc đời, không ai khổ bằng cha.

Nước biển mênh mông, không đong đầy tình mẹ.

Mây trời lồng lộng, không phủ kín công cha.”

       



Cả cuộc đời ba mẹ làm lụng vất vả để nuôi đàn con, nhưng “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Biến cố đau thương 30/4/1975 đổ ập xuống Miền Nam, và số phận ba mẹ cũng theo vận nước nổi trôi. Ba mẹ mất nhà, mất xe, mất tiền để dành trong ngân hàng. Qua đêm, ba mẹ trắng tay. Biến cố ghê gớm quá, ba sốc nặng. Thêm vào đó các con bỏ nước ra đi. Buồn phiền, đến cuối đời ông mắc bệnh ung thư. Hai tháng trước ngày rời cõi trần gian, ông viết cho tôi: 


“Tết về rồi đó con. Không có ngày nào ba không nhớ đến các con, nhưng nhớ nhất những ngày cuối năm và Tết âm lịch. Nay là cái Tết thứ bao nhiêu con xa ba mẹ và Việt Nam? Ba mẹ nhớ những ngày xưa khi các con còn nhỏ, còn ở tiểu học hay trung học, những ngày cận Tết và Tết sao quá vui. Nay không còn, chỉ còn những hình ảnh các con ngày xưa đó. Ba mẹ mỗi ngày mỗi già, biết đến bao giờ ba mẹ mới có một ngày Tết đoàn tụ với các con trước ngày ba mẹ “ra đi”.

Ba nhớ đến tất cả các con, nhớ từng ngày, nhớ nhất là vào dịp tết năm nay, khi các con ở xa ba mẹ hơn nửa vòng xoay trái đất. Nhớ quá những ngày các con quây quần bên mâm cơm tất niên sau bữa giỗ mời ông bà về ăn tết cùng con cháu. Làm sao ba mẹ có thể sống lại với các con một ngày Tết như các năm xưa?…”


Đó là lá thư cuối cùng tôi nhận được trước ngày ba tôi đi vào cõi vĩnh hằng. Ai trong chúng ta không có một người cha để thương, và một người mẹ để nhớ. Hôm nay Tết Bính Ngọ đã về, nhớ về ba mẹ, nhớ những Tết xưa, lòng bồi hồi. Ngày vui bao giờ cũng chóng qua, để lại cho chúng ta không biết bao nhiêu ngậm ngùi, tiếc thương. Cuộc đời vô thường, chúng ta không nắm giữ được những gì, hay những ai chúng ta thương mến. Chúng ta có đó rồi mất đó.

Làm người thầy thuốc 50 năm, tôi đã chứng kiến không biết bao nhiêu cái chết của thương binh và của bệnh nhân, nhưng chưa một lần có diễm phúc đứng bên giường ba mẹ tiễn ba mẹ về nơi viên miễn.


Tết năm nay tôi muốn về quê tôi, phố Hàn, nhìn lại căn phố lầu trên đường Quai Courbet, sau này mang tên con sông “hùng dũng”, con sông “oai hùng” Bạch Đằng. Căn nhà ngó xuống dòng sông Hàn, và chỉ đi đủ 20 bước đã xuống bến đò, ngồi trên con thuyền nhỏ. Qua bên kia bờ là làng Hà Thân. Lên đò chỉ đi thêm 15, 20 phút đến làng ngoại Mỹ Khê tôi. Căn nhà có cây bàng sát cạnh nhà, những mùa gió bão làm đổ cây lá cành xuống trước sân nhà. Nay chắc cây bàng chẳng còn, người ta đã đốn từ rất lâu để mở rộng con đường Bạch Đằng.

Ôi căn nhà xưa cất giấu bao nhiêu kỷ niệm tuổi thơ tôi. Căn nhà chỉ ra khỏi cửa, rẽ trái 50 thước, rẽ trái một lần nữa, đi thêm 500 thước đã đến trường Tiểu học Ecole Primaire Mixte Franco-Vietnamien de Tourane, nơi tôi học lớp đầu tiên, lớp Dự Bị, hay lớp tư, còn gọi là Cours Préparatoire.

Bao giờ tôi về đi lại con đường Marc Pourpe, sau này đổi thành Phan Châu Trinh, đến căn nhà villa cha mẹ tôi, sát cạnh chùa Phổ Thiên hay Phổ Đà, để nghe lại tiếng chuông chùa xưa. Ngày đó cứ đến 3 giờ sáng các thầy đã dậy đảnh lễ, đánh tiếng chuông đầu tiên của ngày. Tiếng chuông chùa chỉ được đánh rất khẽ, như sợ náo động đến các nhà láng giềng đang say ngủ. Về để đi lại con đường xưa ngày ba tôi còn trên trần gian này đã đi. Về lại để đứng trước nhà, nhìn cây mai trổ hoa vàng, để thấy những chậu cúc vàng, hay thược dược nhiều màu ba tôi chăm sóc, tưới nước, bón phân để có hoa ba ngày Tết. Cây mai vàng ai đó đã đốn từ rất lâu. 

Về lại để thăm chú chó Moby thường hay nằm trên hành lang nhà, ngó vu vơ ra ngoài đường. Chú chó tôi thương, ngày đó mẹ tôi đã mua nó với giá 600 đồng. Một chú người làm không gọi nó bằng tên Moby nhưng gọi “Con Sáu Trăm”. Moby đẹp, lông màu chocolate, có hai đốm vàng trên hai con mắt, và một đốm lớn lông vàng nơi cổ như chiếc nơ. Những buổi ăn, Moby thường ngồi bên dưới chân tôi, thỉnh thoảng dấu ba mẹ tôi đút cho Moby một miếng thịt. Đôi khi thấy lâu không được đút miếng gì, Moby đặt mõm lên đùi tôi nhắc. Moby đã ra đi từ rất lâu sau một trận sưng phổi vì mùa đông năm đó mưa nhiều và lạnh.

Tôi sẽ về để đi lại những con đường nhỏ Phố Hàn, tìm lại những kỷ niệm, tìm lại bóng dáng những bạn tuổi thơ. Tôi sẽ đi lại trên đường Độc Lập phượng đỏ đầy tiếng ve sầu kêu vang vang những ngày sắp đến hè. Con đường dẫn tôi đến Collège Francais de Tourane, nơi tôi có “My high school sweetheart”, Lê thị Bạch Vân (tên đã đổi), sau này nàng đã bỏ trường Providence ở Huế vào Saigon học cùng tôi. Những gì tôi cất giấu chỉ có mình nàng, tôi, Vương Ngọc Lâm và Thiên Chúa biết. Mối tình học trò thơ mộng và trong trắng như đợt tuyết đầu mùa. Nhớ những buổi tan học, những lá thư gấp vội vào vở hay sách trao cho người thương…

Sau kỳ thi tú tài nàng lên Đà Lạt vào trường sư phạm. Tôi  vào y khoa. Rồi đường đời vạn nẻo, mãi đến mấy năm sau, tôi gặp lại nàng vào một ngày trước Tết. Nàng không còn ở phố Hàn, nhưng dời về một ngôi nhà nhỏ xinh trong làng Thạc Gián, ngoại ô. Nhà có một gác nhỏ, nàng mời tôi lên, mở cánh cửa sổ ngó xuống một vườn nhỏ có mấy cụm hoa hồng và mấy chậu cúc vàng đang nở hoa.

_ Vân ơi, mới đó mà mấy năm qua từ ngày hai đứa rời Saigon, nay Vân là giáo sư trường trung học công lập Võ Tánh, và Trường Nữ Nha Trang, và mình cũng sắp ra trường. Tưởng rằng hai đứa sẽ đi chung đường cho đến hết cuộc đời này, nhưng Thượng Đế dẫn chúng ta đi hai lối khác…

_ Tùng đừng buồn, hai chúng ta vẫn là những người bạn thân thương, vẫn mãi quý mến nhau, vẫn giữ những kỷ niệm tình yêu đầu đời…

_ Vân có còn nhớ những buổi hai đứa học chung trên căn gác nhà người bà con của Vân ở đường Nguyễn Tri Phương, Saigon?

_ Nhớ chứ, làm sao quên…

“Tình chỉ đẹp khi còn giang dở

Đời mất vui khi đã trọn câu thề”

(Hồ Dzếnh)

Rồi Vân để tay lên bàn, tôi để tay mình trên tay Vân. Đó là lần chót tôi gặp Vân. Sau này chỉ được tin Vân qua các bạn, cho đến ngày Vân ra đi, mới đó mà đã hơn 5 năm. Nay mỗi tối tôi vẫn cầu nguyện cho Vân. Ngày còn đi học Vân rất ngoan đạo.

Đọc đến đây, tôi biết các bạn trai hay gái của tôi ai cũng có một mối tình đầu cất dấu trong tâm, có người thổ lộ cho bạn bè, có người giữ kín cho mình, vì một lý do nào đó…

Tôi quả thật là người mộng du. Thời gian ác nghiệt đã qua đi chẳng bao giờ trở lại dù ta có khóc than ngậm ngùi.

Tôi cũng có những Tết và mùa xuân nơi xứ tuyết. Đó là những năm làm việc tại Kansas. Tết về lặng lẽ trong im ắng. Buổi sáng thức dậy, nhìn qua cửa sổ cả không gian tĩnh lặng phủ một màu trắng tinh tuyền. Một màu trắng tinh nguyên phủ các mái nhà, cây cối, cảnh vật. Không một cánh chim, không một tiếng động. Thế giới như dừng lại, thời gian như ngừng trôi. Pha một ly cà phê nhìn những giọt đắng từ từ rớt xuống cốc, hương cà phê thoảng trong không gian, tâm tư tôi quay về quê hương Việt, nhớ lại tất cả những mùa xuân xưa, những ngày thơ dại, những ngày niên thiếu, và cả những năm khôn lớn vào đời, vào quân ngũ. Mới đó mà bao nhiêu năm đã qua, bao nhiêu người thương, bạn bè đã ra đi…

Năm nay Tết một lần nữa lại về, lòng không còn nôn nao như những ngày thơ dại bên mẹ, bên cha…Một Năm Mới lại đến, tuổi đời thêm chồng chất, nhìn lại đời mình để thấy những vui, những buồn, những hy vọng của những năm qua nay chỉ còn là kỷ niệm. Bao nhiêu người thương đã ra đi, tết về mang nhung nhớ những hương xưa còn vương vấn đâu đây. Đâu bếp nồng có mẹ, có cha, có anh chị em, quây quần ngồi canh nồi bánh chưng khi gió lạnh tháng chạp thổi về. Tiếng củi nổ lách tách, ngọn lửa bập bùng. Nồi bánh chưng được nấu trong một góc vườn, hình bóng đó tưởng gần mà nay đã xa tít mù trong ký ức.

Xuân lại về trên thành phố nhỏ Windermere, Florida. Nhưng năm nay đặc biệt trời trở lạnh, lạnh hơn các năm trước nhiều, tôi bỗng nghe Kim Chi bảo:

Anh nhìn xem, ngoài vườn anh có thấy bốn con “sad doves”, một mẹ và ba con đang đi kiếm thức ăn. Tội nghiệp, trời lạnh quá…Loài “sad dove” là loài chim hiền nhất…”

À, mà anh và em cũng là hai con “sad doves”, hai con chim câu còn sót lại của một gia đình 5 người khi các con đã khôn lớn bay xa. Mùa xuân và Tết về rồi đó em, em muốn anh chúc em gì năm Bính Ngọ này?”

“Chúc gì, Thiên Chúa cho chúng mình hai đứa đủ cả, chẳng thiếu gì trên trần gian này…”

“Anh cảm ơn em đã đi chung, chia sẻ cuộc đời anh qua bao nhiêu mùa xuân, những mùa xuân vui có, buồn có, sầu khổ có, gian nan có, không thiếu những vui chơi, hân hoan, hay buồn phiền…Tất cả những mùa xuân đó đã qua, nay xin xếp lại vào ngăn tủ kỷ niệm…”

Hôm nay Mùa Xuân Mới lại về, mang hy vọng cho một Năm Mới tốt đẹp và an bình hơn. Như Nguyễn Bá Học Ngày xưa đã viết:

”Làm người ai cũng có hy vọng, như người làm ruộng mong cho đến ngày gặt lúa, kẻ đi đường mong cho đến chỗ nghỉ chân…”

“Xuân năm nay anh xin Thiên Chúa Cha cho em và anh hồn an xác mạnh, làm người đưa thư mang những lá thư đầy tràn lời yêu thương của Chúa Giêsu đến cho tất cả những anh em, bạn bè thân quen, hay chưa một lần quen, nhưng đang khao khát tình yêu thương, rằng họ đang được yêu thương và không bao giờ cô độc.

Anh cũng xin Thiên Chúa Cha cho em và anh chân cứng đá mềm, để làm Người Đi Gieo Giống, những hạt giống tình yêu Chúa Giêsu đã trao cho em và anh, để hai chúng ta gieo khắp các nẻo đường chúng ta đi. Dù ngày mai cả em và anh không còn hiện diện trên trần gian này, những hạt mầm yêu thương đó sẽ lớn lên thành những đại thụ che bóng mát cho những bộ hành mệt mỏi cuộc đời gian khổ này nghỉ chân.

Cả hai anh em chúng ta không để ý sẽ có bao nhiêu mùa xuân chúng ta còn có mặt trên thế gian này. Chuyện đó ngoài tầm tay và hiểu biết của chúng ta, để phần còn lại đó cho Thiên Chúa Cha lo, chúng ta sống mùa xuân năm nay đủ rồi.”

Để kết thúc bài tuỳ bút này, xin gửi đến các bạn xa gần lời cầu chúc đầu năm nhiều sức khoẻ và bình an. Xin Thiên Chúa TOÀN NĂNG và TOÀN THIỆN luôn ở bên các bạn trong suốt cuộc đời này.


Comments

Popular posts from this blog

June 30, 2024 60 Năm Sau, Phát Hiện Từ Một Gốc Cây Gây Chấn Động Nước Anh!

October 28, 2023 Con chính là tất cả cuộc đời của mẹ.

March 6, 2024 Việt sử Tân Biên, Phạm Văn Sơn