February 3, 2026. NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG TÔI ĐÃ ĐI QUA, Phương Tuấn.
NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG TÔI ĐÃ ĐI QUA
Phương Tuấn
Tôi sinh ra tại làng Hải Châu thuộc Phố Hàn, nơi thành phố tuyệt đẹp quê hương Miền Trung.
Rất nhiều người viết về Huế, Hà Nội, hay Saigon, ít thấy có ai viết về quê hương tôi.
Nếu bạn đến Phố Hàn bằng máy bay, và khi phi cơ lượn một vòng trên bán đảo Sơn Chà hay Tiên Sa trước khi đáp xuống, bạn sẽ thấy một vùng vịnh nước trong xanh tuyệt vời.
Về phái Bắc phố Hàn, một nhánh của Trường Sơn Đông vươn ra biển Đông như một cánh tay nối dài của dãy núi hùng vĩ, che chắn một vùng vịnh đẹp tuyệt vời. Phía Tây là Trường Sơn Đông, phía Nam là Ngũ Hành Sơn, năm ngọn núi nhỏ như bàn tay 5 ngón của Tề Thiên Đại Thánh trong truyện Tây Du Ký, đi thỉnh kinh với Thầy Đường Tăng, và phía Đông là biển Đông sóng nước chập chùng muôn đời.
Giữa cảnh sắc đó, dòng sông Hàn chảy xen qua giữa, như dải lụa xanh thắt ngang lưng cô gái Miền Bắc xưa, thế kỷ 19 hay đầu 20. Chạy dọc bờ biển Đông là những làng chài Non Nước, Mỹ Khê, Tân Thái, Mân Quang… Nay những làng chài hầu như biến mất, dành chỗ cho những building cao ngất, người đến nơi tưởng mình đang ở Miami hay Hawaii…
Dọc theo hữu ngạn là thành phố cổ gọi là phố Hàn.
Tuổi thơ tôi đã sống những ngày vô cùng sôi động cuối Thế Chiến 2, với ngày Mùng 8 tháng 3 năm 1945 khi quân Nhật đảo chính Pháp, trao “độc lập” cho Việt Nam, và Quốc Trưởng Bảo Đại đưa nhân sĩ Trần Trọng Kim lên làm thủ tướng, lập nên chính phủ Trần Trọng Kim.
Ra đường nghe con nít hát vè:
“Nực cười Tây khóc, Nhật lo,
An Nam độc lập nằm co dưới hầm”.
Những ngày đó thường xảy ra những trận không chiến giữa các máy bay hai thân Hoa kỳ và Nhật trên bầu trời phố Hàn. Con nít tụi tôi lại được cha mẹ cho tiền mua những chiếc máy bay tí hon bằng chì, tưởng tượng mình là phi công đang “dogfight” với phi công Nhật.
Từ ngày có Chính phủ Trần Trọng Kim, tuổi thơ tôi đã nghe đến nạn đói kinh hoàng tại Miền Bắc Việt Nam. Quê tôi phố Hàn không thấy ai chết đói, nhưng một ngày trong tuần phải nhịn một bữa ăn trưa, bỏ gạo vào một hủ gọi là “hủ gạo cứu đói”.
Ngày đó bếp lạnh tanh không được có khói. Lẽ dĩ nhiên mẹ không bao giờ bỏ đói con cái trong nhà. Mẹ luôn nấu cơm ngày hôm trước và ngày hôm sau chúng tôi được ăn cơm nguội với thức ăn ngày hôm qua.
Ngày 19 tháng 8, 1945 Việt Minh cướp chính quyền, từ đó đi trên các con đường phố Hàn thấy những biểu ngữ giăng ngang đường như:
“Không đi lính cho Pháp”, “Không bán lương thực cho Pháp”…và mỗi ngày đoàn lính Việt và Pháp đi tuần tiểu chung. Không nhiều, 6 anh Vệ Quốc Đoàn, áo sơ mi cụt tay, quần short màu xám, súng vác ngang vai đi cùng bên kia 6 lính Lê Dương Pháp.
Rồi chuyện gì phải đến đã đến, đó là ngày 19 tháng 12, 1946 ông Hồ ra lệnh “Toàn quốc kháng chiến”. Gia đình tôi rời phố Hàn qua bên kia sông về trú tại nhà ông ngoại. Bên ni Hàn tối đó súng bắt đầu nổ râm ran, rồi dồn dập. Thấy không yên, ba mẹ và con cái bắt đầu lên đường di tản. Một đêm tháng chạp mưa phùn rét buốt, đoàn người lầm lũi bước trong đêm hướng về phương Nam, cố gắng đi càng xa phố Hàn. Lần đầu tiên tôi thấy bên kia phố Hàn những hỏa châu được bắn lên, lơ lửng trên bầu trời vài phút rồi chợt tắt. Đoạn đường gian khổ của gia đình tôi và toàn dân Việt bắt đầu…Và cứ thế gia đình tôi chạy dài về phương Nam, trước quân đội Pháp vài chục cây số, theo lệnh di tản của Việt Minh. Từ phố Hàn, di tản về Huyện Điện Bàn, rồi làng Cẩm Lậu, Phú Bông, Tiên Đỏa, lên tận Trung Phước vùng núi non nước độc, rốt rét. Ở đây buổi chiều đến rất sớm, cảnh sắc thật thơ mộng với dãy Trường Sơn Đông núi màu lam chập chùng. Làng gia đình tôi ở nhà nào cũng thấp để tránh sương mù. Sương mù lãng đãng mỗi ngày đến trưa mới tan. Ở đây ghét nhất là khí trời khá lạnh, và để tránh sốt rét sáng nào mẹ cũng bắt tôi uống một viên ký ninh vàng rất đắng.
Rời vùng núi rừng mộng mơ nhưng cũng kinh hãi nếu dính sốt rét vàng da, gia đình xuôi về đồng bằng, chạy đến Bến Ván. Ăn ở không, một gia đình bảy người tiền núi cũng cạn, gia đình hồi cư về phố Hàn vào gần giữa năm 1947. Tuy quân đội Pháp đã bình định được những vùng quanh phố Hàn, nhưng thành phố còn vắng lắm. Đến tháng 9 năm đó tôi nhập học lớp Nhì Nhất Trưởng Tiểu học Pháp Việt, và cuộc đời cứ thế đi lên.
Lần thứ hai tôi rời phố Hàn là năm lên 13 tuổi, ba mẹ cho tôi ra Huế, nhập học Trường Trung Học Providence (Thiên Hựu).
Ôi, thật hãi hùng một nhóc con 13 tuổi, ăn chưa no lo chưa tối, đang nệm ấm chăn êm sống bên cha mẹ anh em, nay như con chim chưa đủ lông cánh đã phải bay xa rời tổ ấm. Ngày ra đi vui buồn lẫn lộn, vui vì được học trường lớn, buồn vì xa nhà, không ai quen biết. Ngày đó con đường từ phố Hàn ra Huế, khoảng 100 cây số, nhưng vô cùng nguy hiểm. Việt Minh thường đặt mìn, xe lửa hay xe đò đều không an toàn. Chính trên đèo Hải Vân, đại tá Pháp Roger tử trận trong trận phục kích đoàn convoi. Đường an toàn duy nhất là máy bay. Tôi đến Huế trên chiếc máy bay của hãng Cosara. Phải nhiều năm sau mới có Air Vietnam. Cosara thường chở hoa quả, bắp cải từ Đà Lạt về phố Hàn, rồi tiếp tục bay ra Huế, vì vậy máy bay hôi mùi cải bắp.
Ôi, xứ Huế ngàn năm mộng mơ. Tôi là thằng con trai xứ Quảng lạc loài nơi đây, không bạn bè quen biết. Một nỗi sợ hãi xâm chiếm hồn tôi khi đứng trước Trường Providence. Một ngôi nhà lớn 3 tầng đồ sộ, sơn màu xám với loạt cửa sổ màu xám đậm, trông nghiêm khắc, chẳng có gì thân thiện.
Tôi sống và học tập ở đây được hai năm. Chế độ sinh hoạt cho học sinh nội trú rất khắt khe, gần như trong một học viện quân sự, từ giờ giấc và kỷ luật. Nhà trường được điều khiển và dạy dỗ bởi các giáo sư linh mục thuộc Dòng Thừa Sai Paris. Tuy kỷ luật và khắt khe nhưng đầy tình thương. Ở đây tôi bắt đầu học sống làm người, sống công chính, ngay thẳng, và kỷ luật. Chỉ hai năm thôi nhưng Trường đã để lại trong tôi dấu ấn cho cả một đời người.
Đây là những ngày tôi được sống trong một thành phố yên bình. Chỉ được ra ngoài tự do một mình mỗi Chúa nhật từ 10 giờ sáng đến 5 giờ chiều, nếu suốt tuần học hành đàng hoàng không bị kỷ luật. Tôi dùng thì giờ đi thăm một bạn thân thời niên thiếu. Anh ở trong thành nội. Phần nhiều anh đến Trường chờ tôi trước cổng đúng 10 giờ sáng. Tôi từ từ biết Huế và yêu Huế, như yêu phố Hàn đã sinh ra tôi và nuôi dưỡng tôi.
Tôi đã thấy dòng sông An Cựu “nước đục mưa trong”, quảng đường thật ngắn từ Trường bước qua cầu Kho Rèn đã thấy phố xá bên dòng sông.
Đi lên chút nữa sẽ đến Phủ Cam với nhà thờ chính tòa cổ kính, thật đẹp nằm trên đồi cao. Tôi không ngờ Phủ Cam là nơi người yêu tôi và sau này là người bạn đời đã sống những năm đầu đời tại đây…
Trong hai năm, cả trăm lần tôi đi qua cầu Trường Tiền, con cầu sáu vài, mười hai nhịp bắt qua dòng Hương giang lững lờ trôi. Con cầu lịch sử đã đi vào văn học, thơ văn, và nhạc, khi vào năm Mậu Thân, cây cầu đã gãy một nhịp.
Ngày còn là học sinh nội trú, tôi chưa thấy hết được cái đẹp, dễ thương, diễm kiều của Huế, cho đến mãi mười mấy năm sau khi vào quân đội và có dịp về Huế công tác. Đó là vào cuối thu năm 1967, tôi nghỉ đêm tại Nhà vãng lai sĩ quan, bên kia cầu Trường Tiền. Sáng hôm đó tôi dậy sớm băng qua cầu, tiến về hướng đường Trần Hưng Đạo bên kia cầu định tìm một quán cà phê ăn sáng. Tình cờ dưới dốc cầu thấy một gánh bún bò. Tôi ngồi xuống ghế nhỏ bên đường.
“Bác cho tôi một tô.”
Trời cuối thu se lạnh, những cụm sương mờ còn lãng đãng trên sông Hương, cảnh sắc thật mơ hồ thơ mộng. Hôm đó lần đầu tiên tôi thưởng thức tô bún bò trên đất cố đô, hương vị khác xa những tô bún bò ăn ở bất cứ nơi đâu ở Việt Nam. Một cảm giác ấm áp, xâm chiếm thể xác và tâm hồn… Vừa xong tô bún, người bán nước chè xanh trao cho tôi ly nước, ngồi nhâm nhi ly trà nóng, mặt trời đã lên, sương mù trên sông tan dần, phố xá bắt đầu nhộn nhịp. Từng đoàn nữ sinh áo trắng, quần trắng, tóc xõa ngang vai, nón lá nghiêng nghiêng đạp xe lên dốc cầu. Các cô nói chuyện tôi không hiểu gì, nhưng âm thanh, giọng Huế líu lo, dễ thương chi lạ. Các cô như những nàng tiên áo trắng tâm hồn trắng trong, dại khờ, trinh nguyên…
Ôi, Huế của tôi một thời thật xa xưa. Những hình ảnh đó vẫn còn mãi trong tôi khi nghĩ về Huế. Làm sao tôi có phép màu để lùi lại thời gian, ăn tô bún bò, uống ly nước chè xanh nhìn đoàn nữ sinh áo trắng đạp xe qua cầu. Chẳng có phép màu, chỉ còn lại kỷ niệm.
Cách đây vài năm tôi trở lại thăm Huế, không còn thấy những hình ảnh xưa. Gần sáu mươi năm rồi còn gì. Huế đã đổi thay như lịch sử sang trang. Nay thỉnh thoảng có những lễ hội áo dài đường phố, nhưng trông thật khác xưa, có người nói hoành tráng nhưng tôi không thấy vẻ đẹp đơn sơ, không trang điểm son phấn ngày xưa. Tôi vẫn mãi là người mộng mơ muốn Huế dậm chân tại chỗ.
Bao nhiêu nước đã chảy qua cầu từ ngày đó để lại trong tôi biết bao ngậm ngùi, tiếc thương…
“Đường xưa lối cũ, nắng vẫn lên, có trăng soi trên đầu, mà hình bóng cũ…” (Đường xưa lối cũ, Hoàng Thi Thơ).
Khi tôi vào quân đội, cuộc chiến vệ quốc đã trở nên khốc liệt. Quân đội Thuỷ quân lục chiến Hoa Kỳ đã đổ bộ vào bờ biển Nam Ô, cách phố Hàn mười mấy cây số đường chim bay. Tôi ra đi lòng phơi phới tuổi thanh xuân, đầy tràn nhiệt huyết và đã bỏ một phần lớn đời mình phục vụ, khâu các vết thương chiến trận cho các anh thương binh. Các anh về từ Hồng Ngự, Sa Đéc, từ Krek, Snoul Campuchia khi quân ta tiến sát Cục R. Các anh về từ rừng sâu núi cao, từ Bến Hải đến Cà Mau, từ Trị Thiên anh dũng, từ Bình Long An Lộc anh hùng Mùa Hè Đỏ Lửa. Các anh về từ Tân Cảng, cầu xa lộ, ngày Miền Nam đang hấp hối.
Ôi, những thương binh thương mến của tôi, các anh đã đổ mồ hôi, máu, và nước mắt. Có các anh đã hy sinh đến cả mạng sống mình để quê hương Miền Nam được hai mươi năm an bình. Phải, chẳng có chi cao quý bằng hy sinh mạng sống mình cho tình yêu quê hương.
Nhưng có một ngày, một ngày để lại đắng cay, sầu hận cho quân dân Miền Nam.
Đó là ngày 30/4/1975. Từng chiếc, từng chiếc tăng T54 cắm cờ Mặt Trận nửa xanh nửa đỏ xả hết tốc lực chạy từ hướng Chợ Lớn vào trung tâm thủ đô Saigon. Tim tôi hụt hẫng, thế là hết, còn chi nữa mà mong…
4 năm ở lại quê hương. Bốn năm dài đằng đẵng như bốn thế kỷ, tù đày, vượt biên thất bại, đói rách, nhọc nhằn, bốn năm buồn thảm…Chuyến vượt biên cuối cùng cũng đưa được gia đình tôi đến bến Letung, Indonesia.
Đất nước 16,000 hòn đảo dừa với rừng xanh, biển xanh, trời xanh, đã cho gia đình tôi tạm dung trên quê hương họ. Cảm ơn Indonesia, cảm ơn người Indonesia nghèo nhưng lòng rộng mở đã cho gia đình tôi tá túc trong bước đường cùng. Bao nhiêu năm rồi tôi chưa có dịp về lại xứ những hòn đảo dừa đó để cảm ơn những người không cùng màu da, tiếng nói nhưng đã mở lòng đón nhận những người tỵ nạn như chúng tôi.
Từ Letung, đoàn người chúng tôi được cư ngụ tại Berhala, một đảo hoang không có nước ngọt, khi chúng tôi đến đây dân số đã hơn một ngàn. Berhala còn mệnh danh là đảo ruồi. Ruồi vô kể, ăn cơm không cẩn thận có thể ruồi bay vào ngay miệng ăn. Ruồi vì không có nhà vệ sinh.
Vài tháng sau chúng tôi được dời về đảo Kuku, cũng nằm trong nhóm đảo Anambas, với dân số tỵ nạn 18,000 người. Tại đây tôi gặp hai bạn cố tri, anh em trong cư xá Đắc Lộ Saigon xưa. Người thứ nhất là anh Ngô Trung Trọng, nay được phong chức Trại Trưởng hay Chúa đảo, người thứ hai là anh Tôn thất Vinh, cựu phi công Air Vietnam.
Tại Kuku nếu bạn có tiền có thể ra các quán cóc ngồi nhâm nhi ly cà phê, nhìn sóng biển, nghe nhạc Trịnh.… Quả thật dân tộc Việt đi đâu cũng kiếm sống được.
Tàu cứu người vượt biển “Ile de Lumière” của Pháp đậu ngoài xa, ban đêm đèn trên tàu sáng rực một vùng biển rộng. Quả đúng là “Đảo ánh sáng”, mang lại niềm hy vọng cho những người vô tổ quốc.
Tàu biển của tổ chức cứu người “World Vision” đưa chúng tôi về Tạnjung Pinang, đây là trại làm thủ tục trước khi đi định cư nước thứ ba. Đến đây, chúng tôi giao tiếp được với thế giới văn minh. Người Hoa ở đây khá nhiều với đủ ngành nghề. Không lâu sau tàu “Aneka Express” đưa gia đình đến Singapore. Không thể tưởng tượng được cảnh tượng về đêm của cảng Singapore. Hàng ngàn, hàng ngàn chiếc tàu thắp sáng cả một vùng biển rộng mênh mông. Tàu, cơ man nào là tàu không đếm hết được, từ năm châu bốn biển đổ về đây.
Chỉ ba ngày sau gia đình rời Singapore lên máy bay “Flying Tigers’, quá cảnh Tokyo và đáp xuống phi trường quân sự Davis sau một ngày đêm bay trên Thái Bình Dương.
Ôi, đất nước Hoa Kỳ không biết bao nhiêu người tỵ nạn mơ ước, nay chúng tôi sắp đặt chân xuống, hạnh phúc biết bao! Đây là đất nước của những tiền nhân lập quốc và giữ nước: Gorges Washington, John Adams, Benjamin Franklin, Alexander Hamilton, John Jay, Thomas Jefferson, James Madison… Đất Nước của những người tự do, Nhà của những người dũng cảm. Land of the free, Home of the brave.
Gia đình tôi cũng là gia đình của những người dũng cảm, đã vượt biển, chấp nhận chín phần chết một phần sống để tìm đến đất nước tự do này.
Những ngày còn đi làm việc tôi đã tự bảo phải đi thăm đất nước này.
“Go and see America the Beautiful.”
Quả thật đất nước này đẹp. 50 tiểu bang như 50 nàng tiên, mỗi nàng một vẻ đẹp riêng, nàng nào cũng đẹp. Thế là trong những ngày nghỉ phép thường niên ngắn ngủi, cả nhà lên xe dọc đường rong ruổi. California với con đường 101 quá đẹp dọc bờ biển Thái Bình Dương, đi ngang qua các thành phố mang tên các thánh, như Los Angeles (thành phố Les Anges, thành phố các Thiên Thần), San Francisco, thành phố thánh Phanxicô…Đây là tiểu bang ngày xưa Dòng tu Phanxicô đã đặt chân đến và các tu sĩ đã đặt tên cho các thành phố toàn tên các thánh… “Golden State”, tiểu bang vàng, quả thật vào thế kỷ 18, 19 hàng vạn người đã đổ về đây tìm kiếm vàng…
Từ Tây sang đông đến tận Florida miền Cực Đông, chúng tôi đã băng qua các con đường xuyên bang I 10, I 40, I 80…
Từ Nam lên Bắc qua các con đường I 35, I 75, I 95…
Có lẽ con đường xuyên bang I 10 là con đường dễ đi nhất, vì bằng phẳng băng qua các tiểu bang Miền Nam, từ Florida , qua Alabama, đến Arkansas, Texas, New Mexico, Arizona, California.
Đường xuyên bang I 40 băng qua vùng Grand Canyon với đèo cao lộng gió Flagstaff, hùng vĩ vô cùng.
I 40 cũng băng qua dòng sông Mississippi chảy dài từ Bắc xuống Nam, băng qua quê hương của Mark Twain, nhà đại văn hào Hoa Kỳ. Băng qua tiểu bang Missouri, bối cảnh của nhiều câu chuyện nổi tiếng của ông như Tom Sawyer. Chúng tôi đến Hannibal, một thị trấn nằm bên dòng sông Mississippi, nơi ông đã trải qua thời thơ ấu, mặc dù ông sinh ra ở thị trấn Florida, Missouri gần đó. Thị trấn này vẫn bảo tồn ngôi nhà thời thơ ấu của ông và nhiều địa điểm khác, biến nơi đây trở thành một điểm đến văn học nổi tiếng của Hoa Kỳ. Hannibal, nằm ở phía đông bắc tiểu bang Missouri, dọc theo sông Mississippi, cách St. Louis khoảng 100 dặm về phía bắc.
Con đường xuyên bang I 80 là con đường rất khó đi, đèo cao núi cả băng qua tiểu bang Colorado, xứ đẹp vô cùng, giữa tháng năm vẫn còn tuyết trắng xóa hai bên đường. Dãy núi Colorado là dãy "The Rocky Mountains", chạy từ Bắc xuống Nam. Con đường này băng qua Utah đèo rất cao, ở trên chót vót đỉnh, ghé lại một trạm xăng và vào quán mua thức ăn, trạm xăng cheo leo trên đỉnh cao, xung quanh là đồng không mông quạnh. Chúng tôi hỏi sao nơi vắng vẻ quá, chủ trạm xăng bảo ở lâu quen rồi không muốn dọn đi nơi khác. Đường I 80 quả thật vắng vẻ, đôi khi trên đường, ngó trước dòm sau chỉ thấy có một mình xe mình chạy. Những ngày xưa đó trên 30 năm về trước làm gì có cell phone để gọi 911 cảnh sát xa lộ đến giúp mình…
Con đường xuyên bang I 35 từ Nam lên Bắc băng qua Kansas với những đồng lúa mì hạt vàng nặng trĩu mắt nhìn thấu tận chân trời, với những nông trại lẩm cao chứa lúa. Ở đây cũng có những cánh đồng hoa hướng dương màu sắc rực rỡ…
Con đường 71 từ Nam lên Bắc đưa tôi đi ngang qua dãy núi "The Appalachian Mountains". Đến đây như đứng trên đỉnh trời, dừng xe lại, ngắm cảnh sắc núi cao, từng áng mây bay trên đỉnh đầu, chúng ta như thấy đỉnh trời gần hơn, và con người quả thật nhỏ bé trước vũ trụ bao la.
Có đi mới biết và cảm ơn những tiền nhân đã đổ biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, cả máu, và đôi khi chính mạng sống để xẻ núi lấp sông làm nên những xa lộ xuyên bang thẳng tắp không có ổ gà ổ vịt, để ngày hôm nay xe chúng ta đi vui chơi. Cảm tạ, cảm tạ đất nước Hoa Kỳ.
Tôi vẫn hằng mong ước những Tuỳ bút nhỏ bé như thế này được cất giấu nơi nào đó trong Library of Congress để sau này cả ngàn năm sau, con cháu tôi cả ngàn thế hệ mai sau mang họ “Nguyễn Hữu” đi tìm cội nguồn biết được, vui mừng vỡ oà :
“À ra thế, cả ngàn năm trước có một gia đình đã vô cùng dũng cảm vượt biển sóng to, bão dữ đi tìm cái sống trong cái chết, để ngày hôm nay con cháu sống được trên đất nước Hoa Kỳ văn minh sáng chói. Ngày đó cả ngàn năm sau, mong rằng tiếng Việt vẫn còn ai đó nói được, đọc và viết được trên đất nước này, mong lắm thay !
Những thành phố nào tôi đã đi qua trên quê hương thứ hai, và những thành phố Âu Châu, London, Paris…
Sao lòng tôi vẫn nhớ về quê hương xưa…
Nhớ Long Xuyên bên dòng sông Hậu nước đục với lục bình trôi, với Quân Y Viện Long Xuyên bên kia cầu Nguyễn Hoàng.
Nhớ Saigon với dòng sông Bến Nghé, một thời sinh viên, một thời Tổng Y Viện Cộng Hòa.
Nhớ phố Huế với dòng An Cựu “nắng đục mưa trong”, nhớ dòng Hương Giang với tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân vang trên dòng sông, nhớ đàn nữ sinh áo trắng qua cầu như đàn tiên bướm trắng, và nhớ nhất phố Hàn bên dòng sông Hàn hiền hòa những ngày trời lặng, dữ dội những ngày giông bão, nhớ tuổi học trò mới lớn lên với mối tình đầu đời, thuở biết nhớ biết thương…
Ôi Việt Nam xưa vẫn mãi còn đó trong tôi. Làm sao tôi có thể về thăm lại một lần. Nhưng rồi nhớ một nhà văn Ba Lan, rời xa cố hương qua nhiều năm khuyên:
“Hỡi các bạn, những ai đã xa quê hương xưa, xin chớ về, cảnh cũ không còn, người xưa đã ra đi, chỉ còn lại ngậm ngùi, tiếc thương khi về thăm chốn cũ…”
Vẳng đâu đây tiếng hát thanh tao của ca sĩ Thuỷ Lene bài "Đường xưa lối cũ..."
“…Khi tôi về bồi hồi trong nắng
Tưởng gặp người em hân hoan đứng đón anh về
Nào ngờ người em sang ngang khi xuân chưa tàn
Con đò nào đây đưa em tôi vào xa vắng
Khi tôi về nghẹn ngào trong nắng
Tưởng rằng mẹ tôi rưng rưng đứng đón con về
Nào ngờ mẹ tôi ra đi bên kia cuộc đời
Không lời từ ly cuối cùng trước khi phân kỳ
Chạnh lòng thương nhớ, nhớ phút xưa, phút xưa qua qua rồi
Lạnh lùng tưởng nhớ bóng dáng ai in sâu trong lòng tôi
Đường xưa còn đó, nắng vẫn lên, vẫn trăng treo ven đồi
Mà hình bóng cũ, thiếu trong tôi mỗi khi nghe chiều rơi…”
Tôi đứng lặng nghe, lòng bồi hồi xúc cảm… Những ngày xưa thân ái đã qua đi, chỉ còn lại kỷ niệm trong tôi.

Comments
Post a Comment