March 25, 2026. BỮA TIỆC LY.
Bữa Tiệc Ly,
Đó là ngày thứ năm tuần Thánh. Ngày Lễ Vượt Qua đáng lý được tổ chức vào ngày thứ sáu, nhưng Thầy biết tối thứ năm rạng thứ sáu Thầy sẽ bị bắt nên được tổ chức vào ngày thứ năm để có một bữa ăn cuối cùng chia tay với các tông đồ trước giờ Thầy ra đi.
Và điều đặc biệt Thầy không muốn thấy món thịt cừu trên bàn tiệc, vì vậy trong những ngày lễ Vượt Qua những năm trước cũng vậy, khi có Thầy, không có món thịt cừu, mà chỉ có các món trái cây tươi và khô. Thầy tuyệt đối không chấp nhận giết súc vật làm của Lễ Hiến Tế.
Trong khi Thầy đang nói chuyện với chủ nhà là hai ông bà Elijah và Mary Mark, các tông đồ được cậu bé John Mark dẫn lên lầu. Đó là một căn phòng rộng rãi, đã được dọn sẵn cho bữa tiệc, có bánh mì, rượu, nước, các loại rau thơm, trái cây tươi và khô. Một chiếc bàn dài được bao quanh bởi 13 chiếc ghế dài để tựa lưng, kiểu ghế được các gia đình Do Thái khá giả dùng để cử hành Lễ Vượt Qua.
Ngay phía trong cửa căn phòng này có các bình nước và các chậu rửa, khăn lau, nhưng không có người hầu nào. Các tông đồ đặt câu hỏi:
”Ai sẽ là người rửa chân cho chúng ta, và mọi người đều nghĩ rằng, chắc chắn không phải mình là người hầu rửa chân cho các tông đồ bạn.”
Bàn tiệc cũng rất đặc biệt. Đó là chiếc bàn hình móng ngựa, chữ U, với chiếc ghế dài cao hơn dành cho người chủ tọa. Judas Iscariot bước tới ngả người trên chiếc ghế bên trái ghế danh dự, John Zebedee dành chiếc bên phải ghế chủ toạ. Simon Peter (Phêrô) tức giận đi đến cuối bàn dành chiếc ghế thấp nhất, với hy vọng khi Thầy vào Thầy sẽ đưa mình lên phía trên cao. Các tông đồ còn lại bắt đầu chọn chỗ, bên phải Thầy là Gioan, bên trái là Judas, và sau đó tới lượt Simon Zelote, Matthew, James Zebedee, Andrew, Alpheus twins, Philip, Nathaniel, Thomas và Simon Peter.
Thầy bước vào bàn tiệc và nói:
“Thầy rất muốn ăn với các con một lần nữa trước khi chịu khổ nạn, vì giờ của Thầy đã đến. Ngày mai sẽ để trong tay Thiên Chúa Cha. Thầy sẽ không ăn với các con cho đến khi gặp lại các con trên Nước Thiên Đàng.”
Rượu và nước được trộn vào nhau và tông đồ Thaddeus dâng lên cho Thầy. Sau khi cầu nguyện Thầy nói:
“Các con hãy chia nhau ly rượu này và hãy nhớ đây là bữa Tiệc cuối cùng. Khi chúng ta ngồi lại với nhau một lần nữa sẽ là trên Thiên Quốc.”.
Theo thế tục dân Do Thái, sau khi uống rượu ngày lễ Vượt Qua, họ sẽ đứng dậy đi rửa tay để ăn. Các tông đồ ngạc nhiên thấy Thầy lấy một khăn lớn quấn ngang lưng, đổ nước vào một chậu thau và đến nơi thấp nhất có Peter. Peter tuy có những yếu đuối nhưng tận trong tâm, Peter rất yêu mến Thầy.
“Có phải quả thật Thầy muốn rửa chân con?”
“Bây giờ con chưa hiểu được sự việc này, nhưng rồi con sẽ hiểu ý nghĩa sự việc này.”
“Thầy không nên rửa chân cho con”.
“Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không có phần với Thầy”.
“Như vậy xin Thầy rửa luôn tay và đầu con”.
Sau khi rửa chân cho tất cả 12 tông đồ kể cả Judas Iscariot, Thầy nói:
“Các con có thực sự hiểu điều Thầy đã làm cho các con không? Các con gọi Ta là Thầy, và các con nói đúng, vì quả thật Ta là như vậy. Vậy thì, nếu Thầy đã rửa chân cho các con, tại sao các con lại không sẵn lòng rửa chân cho nhau? Các con học được bài học gì từ việc này, trong đó Thầy đã sẵn lòng thực hiện công việc phục vụ mà các con lại không muốn làm cho nhau? Quả thật, quả thật, Thầy nói với các con:
“ Người đầy tớ không lớn hơn chủ mình; người được sai đi cũng không lớn hơn người sai mình đi. Các con đã thấy nếp sống phục vụ nơi Thầy khi ở giữa các con, và phúc thay cho những ai có được lòng can đảm để cũng biết phục vụ như vậy. Nhưng tại sao các con lại chậm hiểu đến thế, rằng bí quyết của sự cao trọng trong Vương quốc tâm linh không giống như những phương thức trong thế giới vật chất này?
“Khi Thầy bước vào căn phòng này tối nay, các con không chỉ kiêu hãnh từ chối rửa chân cho nhau, mà các con còn tranh cãi với nhau xem ai sẽ được ngồi vào những chỗ danh dự tại bàn tiệc của Thầy. Những danh dự như thế là điều mà người Pha-ri-si và con cái thế gian này tìm kiếm, nhưng giữa các sứ giả của Vương quốc thiên thượng thì không được như vậy. Các con không biết rằng tại bàn tiệc của Thầy không hề có chỗ dành cho sự ưu tiên hay đặc quyền sao? Các con không hiểu rằng Thầy yêu thương mỗi người trong các con cũng như Thầy yêu thương những người khác sao? Các con không biết rằng vị trí ngồi gần Thầy nhất—theo cách nhìn nhận danh dự của con người—chẳng nói lên điều gì về địa vị của các con trong Vương quốc thiên đàng sao?
Trong Vương quốc Thiên đàng ai muốn trở nên cao trọng giữa các con, hãy trở nên như người nhỏ tuổi nhất; còn ai muốn làm người lãnh đạo, hãy trở nên như người phục vụ. Ai là người cao trọng hơn: người ngồi vào bàn tiệc, hay người phục vụ? Chẳng phải người đời thường cho rằng người ngồi vào bàn tiệc mới là người cao trọng hơn sao? Thế nhưng các con hãy nhìn xem: Thầy đang ở giữa các con như một người phục vụ.
Nếu các con sẵn lòng trở thành những người tôi tớ cùng Thầy trong việc thực thi ý muốn của Thiên Chúa Cha, thì trong Vương quốc sắp đến, các con sẽ cùng Thầy ngự trị trong quyền năng, và vẫn tiếp tục thực thi ý muốn của Đức Chúa Cha trong vinh quang tương lai.”
Khi họ dâng cho Thầy chén rượu thứ ba, còn gọi là “chén chúc tụng”, Thầy đứng dậy khỏi ghế dài, cầm lấy chén rượu trong tay, cầu nguyện và phán:
“Tất cả các con hãy cầm lấy chén này mà uống. Đây sẽ là chén kỷ niệm về Thầy. Đây là chén chúc tụng cho một kỷ nguyên mới của Ân điển và Chân lý. Đối với các con, đây sẽ là biểu tượng cho sự ban tặng và chức vụ của Thần Khí thiêng liêng. Và Thầy sẽ không uống chén này cùng các con một lần nào nữa, cho đến khi Thầy uống nó dưới một hình thức mới cùng các con trong Vương quốc vĩnh cửu của Đức Chúa Cha.”
Tất cả các tông đồ đều cảm nhận được rằng một điều gì đó phi thường đang diễn ra, khi họ uống chén chúc tụng này trong niềm tôn kính sâu sắc và sự im lặng tuyệt đối.
Lễ Vượt Qua xưa kia kỷ niệm việc tổ phụ họ thoát khỏi kiếp nô lệ để bước vào thế giới tự do; giờ đây, Thầy đang thiết lập một bữa tiệc kỷ niệm mới, một biểu tượng cho kỷ nguyên mới, trong đó mỗi cá nhân bị nô lệ sẽ thoát khỏi xiềng xích của lễ nghi hình thức và sự ích kỷ, để bước vào niềm vui thiêng liêng của tình huynh đệ và sự hiệp thông giữa những người con của đức tin đã được giải phóng, những người con của Đức Chúa Trời hằng sống.
Khi họ đã uống xong chén kỷ niệm mới này, Thầy cầm lấy bánh, sau khi tạ ơn, Thầy bẻ bánh ra từng miếng nhỏ; bảo họ chuyền tay nhau và phán:
“Các con hãy cầm lấy bánh kỷ niệm này mà ăn. Thầy đã nói với các con rằng Thầy chính là Bánh Hằng Sống. Và Bánh Hằng Sống này chính là sự sống hợp nhất của Đức Cha và Thầy, được ban tặng như một món quà duy nhất. Lời của Đức Chúa Cha, như đã được bày tỏ nơi Thầy, quả thực chính là Bánh Hằng Sống.”
Khi họ đã dùng xong bánh kỷ niệm, biểu tượng của Lời chân lý hằng sống đã nhập thể trong hình hài xác thịt phàm trần, tất cả đều ngồi xuống.
Khi thiết lập bữa tiệc kỷ niệm này, Thầy theo thói quen thường lệ, đã sử dụng các dụ ngôn và biểu tượng. Thầy dùng các biểu tượng bởi vì Thầy muốn truyền dạy những chân lý thiêng liêng cao cả theo một phương cách đặc biệt, khiến cho những người kế tục Thầy sau này, khó có thể gán cho lời Thầy những cách giải thích quá cứng nhắc hay những ý nghĩa quá xác định. Bằng cách này, Thầy đã tìm cách ngăn chặn các thế hệ nối tiếp sau này biến những lời dạy của Thầy thành những khuôn mẫu cứng nhắc, hay trói buộc những ý nghĩa tâm linh của Thầy bằng những xiềng xích cứng ngắt của truyền thống và giáo điều. Trong việc thiết lập nghi lễ hay bí tích duy nhất gắn liền với toàn bộ sứ mệnh cuộc đời Thầy, Thầy đã hết sức dụng tâm để gợi mở những ý nghĩa của mình, thay vì tự trói buộc bản thân vào những định nghĩa chính xác và cứng nhắc. Thầy không hề muốn hủy hoại quan niệm của mỗi cá nhân về sự giao cảm thiêng liêng bằng cách thiết lập một hình thức nghi lễ cố định; Thầy cũng không mong muốn giới hạn trí tưởng tượng tâm linh của người tin bằng cách gò ép nó vào những khuôn khổ hình thức. Thay vào đó, Thầy tìm cách giải phóng linh hồn đã được tái sinh của con người, để nó tự do bay bổng trên đôi cánh tự do tâm linh mới mẻ và sống động.
Mặc dù Thầy đã nỗ lực thiết lập bí tích tưởng niệm mới mẻ này theo cách đó, nhưng những người kế tục Thầy trong suốt những thế kỷ sau đó lại khiến cho ước nguyện rõ ràng của Thầy bị cản trở một cách hữu hiệu; họ đã biến những biểu tượng tâm linh đơn sơ mà Thầy để lại trong đêm cuối cùng khi còn mang thân xác phàm trần, thành những lời giải thích cứng nhắc và chính xác, rồi áp đặt lên chúng sự chuẩn xác gần như toán học của những công thức định sẵn. Trong tất cả những lời dạy của Thầy, không có lời dạy nào lại bị chuẩn hóa theo truyền thống một cách thái quá như điều này.
Sau khi cùng nhau tĩnh tâm suy ngẫm trong chốc lát, Thầy tiếp tục nói:
“Khi các con thực hiện những điều này, hãy nhớ lại cuộc đời Thầy đã sống trên trần thế giữa các con, và hãy hân hoan vì Thầy sẽ tiếp tục sống trên trần thế cùng các con, cũng như tiếp tục phục vụ thông qua chính các con. Với tư cách là những cá nhân, các con chớ tranh giành nhau xem ai là người cao trọng nhất. Tất cả các con hãy sống như những người anh em. Và khi Vương quốc này phát triển rộng lớn để đón nhận những nhóm tín hữu đông đảo, các con cũng hãy tránh việc tranh giành địa vị hay tìm kiếm sự ưu tiên giữa các nhóm tín hữu đó.”
Khi Thầy đã thiết lập xong bữa tiệc tưởng niệm này, Thầy phán cùng các tông đồ:
“Và bất cứ khi nào các con làm điều này, hãy làm để tưởng nhớ đến Thầy. Và khi các con tưởng nhớ đến Thầy, trước hết hãy nhìn lại cuộc đời Thầy trên thế gian, hãy nhớ lại rằng Thầy đã từng ở cùng các con; và sau đó, nhờ đức tin, hãy nhận biết rằng một ngày nào đó tất cả các con sẽ cùng dùng bữa với Thầy trong Vương quốc vĩnh cửu của Đức Chúa Cha. Đây là Lễ Vượt Qua mới mà Thầy để lại cho các con, chính là ký ức về cuộc đời hiến dâng của Thầy, lời Chân lý vĩnh cửu; và về Tình yêu của Thầy dành cho các con, sự tuôn đổ Thần Khí Thánh Linh Chân Lý của Thầy xuống trên tất cả mọi người.”
Tất cả kết thúc Lễ Vượt Qua bằng việc cùng nhau cất tiếng hát Thánh Vịnh thứ một trăm mười tám.
Xin cho con biết Cha, và cho con biết con. Biết Cha để lắng nghe Lời Cha, và đem ra thực hành trong đời sống mỗi ngày. Biết con để thay đổi con đường con đi thành con đường công chính của Cha, để có Thiên Đàng ngay trong tâm, và Cha luôn mãi ở cùng con. Xin cho những ai đọc bài suy niệm này hiểu được Tình Cha và quay về làm con cái của Cha.
Xin Cha ban phước lành hồn xác cho tất cả những ai đọc bài suy niệm này trong Blog của con. AMEN
Comments
Post a Comment