March 28, 2026. Tình Người Dưới Mái Nhà Thờ – Câu Chuyện Của Joe Và Chúng Ta, Nguyễn Khánh Vũ
Tình Người Dưới Mái Nhà Thờ – Câu Chuyện Của Joe Và Chúng Ta
27/02/2026
Tác giả đã tham dự Viết Về Nước Mỹ ngay từ năm đầu tiên. Là con một gia đình H.O., đến Mỹ năm 1995, khi đã 27 tuổi. Nguyễn Khánh Vũ hiện là kỹ sư điện toán cho một công ty tại Arizona và đã góp nhiều bài viết xúc động. Lần này bài viết là lời kể về câu chuyện của Joe, một người cựu chiến binh sống cuộc đời vô gia cư với nhiều tâm sự đáng thương. Và như tác giả nói – Đây là một câu chuyện của nước Mỹ. Một câu chuyện của tình thương. Một câu chuyện của niềm hy vọng.
***
“Cuối tuần này, cháu có bận chuyện gì không?”, ông cụ bảo trợ cho gia đình tôi đến California khi gia đình tôi rời khỏi Việt Nam sang tị nạn tại Hoa Kỳ nhờ vào chương trình HO, vỗ vai hỏi khi ông thấy tôi đang ngồi ôn mấy bài học Anh ngữ mấy lớp ESL. Nếu không có ông, có lẽ gia đình tôi đã đến sinh sống ở tận tiểu bang Minnesota lạnh giá.
Việc tham gia công tác thiện nguyện đầu tiên tại Hoa Kỳ của tôi đã bắt đầu đơn giản như thế. Và rồi, đến hẹn lại lên, vào mỗi sáng thứ Ba hàng tuần, tôi lại theo chân ông, ngồi bên cạnh ông trên một chiếc xe bán tải, mà ở phía sau chất đầy đổ ăn, thức uống, quần áo, vật dụng sinh hoạt như túi ngủ, giấy vệ sinh, … đến một nhà thờ nhỏ chỉ cách nhà ông chỉ độ 2, 3 phút lái xe. Ngôi nhà thờ khang trang này nằm trên một con đường rợp bóng cây. Nhà thờ không lớn, không cổ kính, nhưng luôn tràn đầy hơi ấm của tình người - một nơi mà những người kém may mắn, những người vô gia cư, những cựu chiến binh lạc lõng giữa xã hội rộng lớn này có thể tìm thấy một bữa ăn, một nụ cười và đôi khi, là một tia hy vọng để bước tiếp.
Trong suốt nhiều năm tham gia các công tác thiện nguyện, tôi đã có cơ hội gặp vô số mảnh đời khác nhau, nhưng không ai đã để lại trong tâm trí tôi một dấu ấn sâu sắc như Joe.
Joe – người đàn ông với đầy hình xăm, cộc cằn, mang một trái tim bị tổn thương
Lần đầu gặp Joe, tôi nhớ rõ cảm giác e ngại của mình. Anh có dáng người cao lớn, mái tóc bạc lơ thơ, có lẽ mới ngoài năm mươi, đôi mắt sâu ẩn dưới hàng chân mày rậm. Trên cánh tay anh là những hình xăm chằng chịt gợi lên một cuộc đời từng trải, dữ dội.
“How may I help you, sir?” (Thưa ông, tôi có thể giúp ông điều gì?) - Tôi lí nhí hỏi Joe, trong lần tiếp xúc đầu tiên, khi đến lượt anh nhận thức ăn, với cái thứ tiếng Anh còn lóng ngóng xen lẫn chút e dè.
“You are new. I see” (Tôi biết anh là người mới) - Joe trả lời cộc lốc, nhìn tôi với đôi mắt đỏ lừ, có lẽ do nghiện rượu, trong lúc tay lóng ngóng, run run vuốt nhẹ trên mái tóc gợn sóng, đã nhiều ngày không tắm gội.
Với cách trò chuyện thiếu thiện cảm, kèm theo giọng nói bất cần, đôi lúc như gầm gừ, Joe luôn khiến những người tiếp xúc với anh đều có chút lo sợ hay không thoải mái. Mấy anh chị trong nhóm thiện nguyện, sau này cho tôi biết, ai cũng cố gắng tránh tiếp xúc với Joe.
“How may I help you, sir?”, tôi lập đi lập lại cùng một câu hỏi mỗi dịp gặp Joe, kèm theo một nụ cười gượng gạo với hy vọng không làm anh khó chịu. Những lần sau này, Joe chẳng thèm trả lời tôi, cũng chẳng nhìn tôi, chỉ lặng lẽ chỉ tay vào những khay thức ăn mà anh ta muốn chọn.
Những tuần trước lễ Tạ Ơn luôn luôn là những buổi làm việc dài nhất, vất vả nhất trong năm vì ngoài việc phục vụ những người vô gia cư, thường đến với số lượng đông hơn, nhóm thiện nguyện còn giúp đỡ những gia đình có thu nhập thấp sống trong những vùng lân cận. Nhờ vào sự rộng tay hơn từ các mạnh thường quân, thức ăn và các vật dụng phân phát thường có số lượng gấp 3, 4 lần so với những tuần bình thường.
Dù mệt mỏi, bụng thì đói, mấy anh chị em thiện nguyện chẳng ai than phiền mà tất cả đều vui vì đã có thể chung tay làm một việc có ý nghĩa cho đồng loại. Trong lúc đang loay hoay dọn dẹp, cắt nhỏ các thùng giấy để bỏ vào thùng rác, tôi bỗng giật bắn mình khi nghe giọng nói ồm ồm ngay sau lưng.
“You need help?” (Anh cần giúp không?) - và tôi nhận ngay ra giọng nói quen thuộc vẫn thường làm cho tôi ít nhiều e dè. “Yes, sir” (Vâng, thưa ông) - Tôi nhanh chóng đáp lời sau một thoáng ngạc nhiên. Sau chừng độ một giờ đồng hồ, khi mọi việc dọn dẹp đã hoàn tất, trả lại bãi đậu xe thông thoáng cho thánh lễ chiều, tôi cùng với mấy anh chị em thiện nguyện đến nhận phần cơm hộp của mình.
“You want some orange juice?” (Anh muốn nước cam không?), lại giọng nói ấy nhưng lần này hình như không còn vẻ khó chịu như mọi khi.
Và kể từ ngày đó, tôi có thêm một người bạn phụ giúp tôi dọn dẹp sau những buổi thiện nguyện. Điều này đã khiến cho tất cả anh chị em thiện nguyện trong nhóm rất ngạc nhiên.
Joe từng là một thanh niên Mỹ bình thường, thích bóng bầu dục và nhạc rock, cho đến khi đất nước gọi anh lên đường. Năm ấy, Joe mới 24 tuổi. Anh được gửi sang Việt Nam, một đất nước mà trước đó anh không biết gì nhiều, ngoài vài dòng trên báo và bản đồ.
“Tôi đến Việt Nam khi còn trẻ …” Joe đã nói với tôi như vậy, giọng khàn khàn, mắt nhìn xa xăm.
“… và tôi rời Việt Nam như một người khác. Tôi để lại ở đó một phần thân thể, và cả một phần tâm hồn.” Trong một cuộc đụng độ khốc liệt với Cộng quân, Joe dính phải một quả mìn và mất cả hai chân. Vài tuần sau đó, Joe được cho giải ngũ và trở về nước.
Sau chiến tranh – khi nước Mỹ quay lưng với những cựu binh Việt Nam
Trở về Hoa Kỳ, Joe tưởng rằng anh sẽ được chào đón như một người hùng. Nhưng điều chờ đợi anh lại là sự thờ ơ, thậm chí là oán trách. Thời điểm ấy, nước Mỹ chia rẽ sâu sắc vì cuộc chiến Việt Nam. Những cựu binh trở về bị xem là biểu tượng của một cuộc chiến thất bại và vô nghĩa.
Joe là một trong số họ - một người lính trở về mà chỉ nhận được ánh mắt nghi ngại của xã hội.
Vợ anh, vì không chịu nổi áp lực của cuộc sống với một người chồng khuyết tật và tổn thương tâm lý, đã bế theo cô con gái nhỏ ra đi. Joe từ một người lính kiên cường biến thành kẻ say rượu, nghiện ngập, sống vất vưởng giữa thành phố rộng lớn. Anh cảm thấy mình không còn giá trị, không còn nơi nương tựa.
“Tôi đã từng nghĩ nước Mỹ không còn chỗ cho tôi nữa.” Joe nói. “Tôi nghĩ đời tôi kết thúc từ lâu rồi.”
Nhưng anh không biết rằng cuộc đời vẫn còn dành cho anh một món quà - từ chính những người Việt Nam tị nạn, những người từng là nạn nhân của cuộc chiến tranh, nước mất nhà tan, giờ tìm đến đất nước anh để gầy dựng lại cuộc sống.
Cộng đồng Việt Nam – những người không quên ơn nước Mỹ
Sau năm 1975, hàng triệu người Việt Nam vượt biển tìm tự do. Hoa Kỳ là nơi đã mở rộng vòng tay đón họ, cho họ một mái nhà, một tương lai mới. Đối với rất nhiều người Việt, Hoa Kỳ không chỉ là quốc gia tị nạn - đó là miền đất đã cứu sống gia đình họ, đưa họ thoát khỏi chế độ Cộng sản và mở ra cho họ và gia đình hy vọng. Chính vì vậy, lòng biết ơn của người Việt đối với đất nước này, và đặc biệt là đối với những người lính Hoa Kỳ đã từng chiến đấu bảo vệ miền Nam Việt Nam, luôn sâu đậm. Trong mỗi phần cơm tấm, mỗi phần bánh mì chúng tôi chuẩn bị cho người vô gia cư, trong từng tô phở nóng hay ly cà phê, đều có tấm lòng tri ân ấy.
Người Việt tị nạn, mang trong mình ký ức mất nước, những thuyền nhân từ những trại tị nạn, những người tù từ các trại “cải tạo”, …, hiểu hơn ai hết nỗi đau của những người bị xã hội ruồng bỏ, đày đọa. Họ dùng chính nỗi đau đó để bao dung Joe, để gieo lại niềm hy vọng cho anh. Còn Joe, với đôi chân giả, với trái tim sứt mẻ vì chiến tranh và đời sống, lại thấy ở người Việt hình ảnh của lòng tri ân và sự tử tế.
Những người Việt tị nạn không thể chữa lành được tất cả vết thương chiến tranh, nhưng qua những bữa ăn giản dị, qua những cái bắt tay, hay những cuộc trò chuyện ngắn ngủi, hỏi thăm chân tình, Joe đã tìm lại được niềm vui, niềm tin vào cuộc sống, và dần tìm lại được chính mình.
Thay Cho Lời Kết
Nước Mỹ là một đất nước rộng lớn, đôi khi thật khó hiểu hoặc có thể khắc nghiệt, nhưng cũng là nơi những câu chuyện nhân ái như thế này diễn ra mỗi ngày. Người Việt tị nạn đã đến Mỹ với hai bàn tay trắng, nhưng họ mang theo trái tim đầy biết ơn. Và chính trái tim ấy đã mang đến sự hồi sinh cho một người lính Mỹ từng bị chính quê hương mình lãng quên. Câu chuyện của Joe không chỉ là câu chuyện của một cựu chiến binh. Nó là biểu tượng cho sức mạnh của tình người, của sự tha thứ, của lòng tri ân vượt qua biên giới văn hóa và lịch sử.
Joe lặng lẽ đến ngồi cạnh tôi, vụng về sử dụng đôi đũa gỗ, ăn món bún bò xào xả, đựng trong chiếc hộp làm bằng xốp. Sau khi thấy tôi dùng xong bữa, anh thò tay vào túi áo khoác cũ kỹ, nơi anh luôn giữ sát ngực mình, rồi cẩn thận lấy ra một tấm hình đã nhàu nát, phai màu theo năm tháng. Tấm hình nhỏ đến mức các góc đã sờn rách, nhưng Joe vuốt nhẹ lên đó bằng những ngón tay run run, như sợ chỉ một cử động mạnh cũng có thể làm vỡ tan ký ức mong manh còn sót lại. Trong ảnh là một bé gái chừng ba tuổi, đôi mắt xanh biếc trong veo như bầu trời mùa xuân, khuôn mặt bầu bĩnh, ngây thơ và dễ thương đến nao lòng.
Joe thì thầm: “Jane… con gái tôi.”
Khi nói đến tên con, giọng anh nghẹn lại. Đôi mắt vốn từng chai sạn vì chiến tranh và cuộc đời bỗng đỏ hoe, long lanh nước. Anh nói rằng anh đã mất tất cả—đôi chân, gia đình, cả những năm tháng tuổi trẻ - nhưng tấm hình này thì chưa bao giờ rời khỏi người anh. Joe gấp tấm hình lại thật chậm, đặt lại vào túi áo như cất một báu vật. Joe chỉ có một ao ước cuối đời, gần như một lời cầu nguyện khi anh nói khẽ: được nhìn thấy con gái mình thêm một lần nữa, chỉ một lần thôi.
Và tôi đã chấp tay, đã thì thầm với chúa Hài Đồng, đang dang tay muốn ôm tất cả nhân loại vào lòng, từ trong hang đá bé nhỏ đặt trong căn phòng khách đơn sơ này.
Viết khi Giáng Sinh đang về với mọi nhà,
Ngày 15 tháng 12 năm 2025,
Nguyễn Khánh Vũ
Comments
Post a Comment