March 29, 2026. Chúa Giêsu bị bắt: TỐI THỨ NĂM TRONG VƯỜN GETHSEMANE...
TỐI THỨ NĂM TRONG VƯỜN GETHSEMANE
Sau khi rời nhà của cha mẹ John Mark, 11 tông đồ theo Thầy vào vườn Gethsemane. Judas Iscariot đã bỏ Thầy trong Bữa Tiệc Ly và đi gặp Hội đồng Do Thái Giáo để lập kế hoạch bắt Thầy.
Trời đã khuya và 8 tông đồ vào lại trong các lều để ngủ. Thầy dẫn riêng ba tông đồ Peter, John và James Zebedee đi đến chỗ có cối ép nho để tỉnh thức và cầu nguyện cùng Thầy khi giờ của Thầy đã tới. Thầy rất buồn khi nhìn qua thấy ba tông đồ ngủ say:
”Sao các con không thể tỉnh thức cùng Thầy một lát và cầu nguyện cùng Thầy sao?”.
Tội nghiệp chỉ có chú bé John Mark núp trong bụi cây gần cối ép nho tỉnh thức và nhận biết tất cả sự việc xảy ra sau này.
Khi toán lính vũ trang và lính canh cầm đuốc và đèn lồng tiến lại gần khu vườn, Judas đã bước hẳn lên phía trước đoàn người, cốt để có thể nhanh chóng nhận diện Thầy, giúp những người lính dễ dàng bắt Thầy trước khi các môn đồ kịp tập hợp lại để bảo vệ Thầy.
3 tông đồ kể trên cùng tất cả các môn đồ vội vã chạy xuống phía gần cối ép dầu, nơi Thầy đang ngồi trầm mặc một mình dưới ánh trăng.
Đây là các môn đồ người Greeks có mang khí giới như gươm để bảo vệ Thầy.
Trong khi toán lính đang tiến lại từ một phía, các môn đồ lại tiến đến từ phía đối diện. Khi Judas sải bước tới để tiếp cận Thầy, hai nhóm người ấy đứng sững lại, bất động, với Thầy đứng ở giữa, còn Judas sửa soạn đặt nụ hôn phản bội lên trán Thầy.
Kẻ phản bội đã từng hy vọng rằng, sau khi dẫn toán lính canh đến vườn Gethsemane, hắn chỉ cần chỉ điểm Thầy cho họ nhận diện, hoặc cùng lắm là thực hiện lời hứa chào đón Thầy bằng một nụ hôn, rồi sau đó nhanh chóng rút lui khỏi hiện trường.
Thầy đã thực hiện một nỗ lực cuối cùng để cứu Judas khỏi việc phản bội; Thầy đã bước sang một bên và, hướng lời về phía người lính đi đầu ở bên trái, viên đội trưởng người La Mã, Thầy hỏi:
“Các ngươi tìm ai?”
Viên đội trưởng đáp:
“Giê-xu người Na-za-rét.”
Ngay lập tức, Thầy bước thẳng ra đứng trước mặt viên sĩ quan đó với vẻ uy nghi trầm tĩnh của Đấng Thượng Đế cai quản toàn thể tạo hóa này.
Thầy phán:
“Chính Ta đây.”
Nhiều người trong toán quân vũ trang này từng nghe Thầy giảng dạy trong Đền Thờ, những người khác lại từng nghe kể về những phép lạ đầy quyền năng của Thầy; và khi nghe Thầy dõng dạc tuyên bố như thế, những kẻ đứng ở hàng đầu bỗng chốc ngã nhào về phía sau. Họ hoàn toàn choáng ngợp trước sự trầm tĩnh và vẻ uy nghi trong lời tuyên bố của Thầy. Thầy đã dũng cảm tự lộ diện trước kẻ thù, và chúng hoàn toàn có thể bắt giữ Thầy mà không cần đến sự trợ giúp của Judas. Tuy nhiên, kẻ phản bội kia buộc phải làm điều gì đó để biện minh cho sự hiện diện của hắn trong toán quân vũ trang này; hơn nữa, hắn còn muốn phô trương việc mình đang thực hiện đúng phần giao kèo phản bội đã thỏa thuận với các nhà lãnh đạo Do Thái giáo, hòng đủ điều kiện nhận lấy những phần thưởng và danh vọng to lớn, những thứ mà hắn tin rằng sẽ được ban tặng dồi dào cho hắn để đền bù cho lời hứa giao nộp Thầy vào tay chúng.
Khi toán lính canh đã trấn tĩnh lại sau thoáng chốc hoang mang ban đầu trước hình ảnh và âm thanh giọng nói khác thường của Thầy, và khi các môn đồ đang tiến lại gần hơn, Judas bước tới bên Thầy, đặt một nụ hôn lên trán Thầy và thốt lên:
“Kính chào Thầy”.
Và khi Judas đang ôm lấy Thầy mình như thế, Thầy phán: “Này bạn, làm thế này vẫn chưa đủ sao! Chẳng lẽ ngươi lại nỡ phản bội Con Người chỉ bằng một nụ hôn ư?”
Ba tông đồ Peter, James, John Zebedee và các môn đồ thực sự sững sờ trước những gì họ vừa chứng kiến. Trong thoáng chốc, chẳng ai nhúc nhích. Sau khi gỡ mình ra khỏi vòng ôm phản bội của Judas, Thầy bước tới trước mặt toán lính canh và binh sĩ, rồi một lần nữa hỏi:
“Các ngươi tìm ai?”
Và một lần nữa, viên đội trưởng đáp:
“Giê-xu người Na-za-rét.”
“Ta đã nói với các ngươi rằng Ta chính là Người đó. Vậy nếu các ngươi tìm bắt Ta, hãy để những người này đi đường của họ. Ta sẵn sàng đi cùng các ngươi.”
Thầy đã sẵn sàng trở về Giê-ru-sa-lem cùng toán lính canh, và viên chỉ huy đội quân cũng hoàn toàn sẵn lòng cho phép các tông đồ cùng các bạn hữu được ra về.
Lúc Thầy đang đứng đó chờ đợi mệnh lệnh của viên chỉ huy—một người tên là Malchus, vệ sĩ người Syria của Thượng tế, đã bước tới bên Thầy và toan trói tay Thầy ra sau lưng, mặc dù viên chỉ huy người La Mã chưa hề ra lệnh phải trói Thầy theo cách đó. Khi Peter cùng các bạn hữu chứng kiến Thầy mình phải chịu đựng sự sỉ nhục này, họ không còn kìm nén được nữa. Peter rút gươm ra và cùng những người khác xông tới chém Malchus. Nhưng trước khi toán lính kịp xông vào bảo vệ người đầy tớ của Thượng tế, Thầy đã giơ tay ra hiệu ngăn cản Peter, và cất tiếng nghiêm nghị:
“Peter, hãy tra gươm vào vỏ. Những kẻ dùng gươm sẽ chết vì gươm. Và con cũng chẳng biết rằng ngay lúc này đây, Thầy có thể truyền lệnh cho hơn mười hai đạo binh thiên sứ cùng các cộng sự của họ đến giải cứu Thầy khỏi tay những kẻ này sao?”
Trong khi Thầy đã hữu hiệu ngăn chặn hành động chống cự bằng vũ lực này của các tông đồ và môn đồ, thì sự việc đó lại đủ để khơi dậy nỗi sợ hãi nơi viên đội trưởng đội vệ binh; hắn liền cùng các binh lính của mình xông vào bắt giữ Thầy một cách thô bạo và nhanh chóng trói Thầy lại. Khi họ đang dùng những sợi dây thừng to để trói tay Thầy, Thầy nói:
“Tại sao các ngươi lại kéo đến bắt Ta với gươm giáo và gậy gộc, như đang vây bắt một tên cướp? Ngày nào Ta cũng ở giữa các ngươi trong Đền Thờ, công khai giảng dạy cho dân chúng, thế mà các ngươi chẳng hề tìm cách bắt Ta?”
Sau khi Thầy đã bị trói, viên đội trưởng lo sợ rằng các môn đồ của Thầy có thể tìm cách giải cứu, liền ra lệnh bắt giữ cả họ; nhưng đám lính đã không kịp trở tay, bởi vì sau khi nghe lỏm được mệnh lệnh bắt giữ của viên đội trưởng, các môn đồ của Thầy đã vội vã tháo chạy ngược trở lại vào trong khe núi. Suốt khoảng thời gian đó, John Mark vẫn ẩn mình trong một túp lều gần đó. Khi đám lính vệ bắt đầu áp giải Thầy về Giê-ru-sa-lem, John Mark toan lẻn ra khỏi lều để đuổi theo các tông đồ và môn đồ đang chạy trốn; nhưng đúng lúc cậu vừa bước ra, một trong những tên lính cuối cùng thuộc toán quân vừa truy đuổi các môn đồ đang chạy trốn đã đi ngang qua đó; nhìn thấy chàng thanh niên này chỉ khoác trên người một tấm áo vải gai, hắn liền đuổi theo và suýt bắt kịp cậu. Quả thực, tên lính đã áp sát đủ gần để túm lấy vạt áo của John; nhưng chàng thanh niên đã vùng thoát khỏi tấm áo, chạy trốn trong tình trạng trần truồng, bỏ lại tên lính đang ngơ ngác cầm trên tay chiếc áo trống rỗng. John Mark vội vã chạy đến tìm David Zebedee ở trên con đường mòn phía trên. Sau khi thuật lại cho David nghe mọi chuyện đã xảy ra, cả hai người liền hối hả quay về khu lều nơi các tông đồ đang ngủ, và báo tin cho cả tám vị tông đồ kia biết về việc Thầy bị phản bội và bị bắt giữ.
Vào khoảng thời gian tám vị tông đồ đang được đánh thức, những người đã chạy trốn lên khe núi đang quay trở lại; tất cả họ tụ họp gần cối ép dầu ô-liu để bàn bạc xem nên làm gì tiếp theo. Trong lúc đó, Simon Peter và John Zebedee—những người đã ẩn nấp giữa các cây ô-liu—đã đi theo sau đám đông gồm lính tráng, vệ binh và gia nhân; lúc này, đám đông đang áp giải Thầy trở về Giê-ru-sa-lem, hệt như cách họ áp giải một tên tội phạm nguy hiểm. John Zebedee bám sát ngay phía sau đám đông, còn Peter thì đi theo từ đằng xa. Sau khi thoát khỏi tay tên lính, John Mark đã kiếm được một chiếc áo choàng mà cậu tìm thấy trong lều của Simon Peter. Cậu đoán rằng đám vệ binh sẽ giải Thầy đến tư dinh của Annas, vị Thượng tế đã về hưu; vì thế, cậu đi vòng qua các vườn ô-liu để đến đó trước đám đông, rồi ẩn nấp gần lối vào cổng dinh thự của vị Thượng tế…
Có một sự hiểu lầm Thầy cần giải bày cho các con:
Quả thực và chính xác, ý muốn của Đức Chúa Cha rằng Con Ngài phải uống cạn chén kinh nghiệm trần thế, từ lúc sinh ra cho đến khi qua đời. Tuy nhiên, Thiên Chúa Cha hoàn toàn không hề liên can gì đến việc xúi giục những hành vi man rợ của những con người tưởng chừng văn minh ấy—những kẻ đã tra tấn Thầy một cách tàn bạo và chất chồng những nỗi nhục nhã một cách khủng khiếp lên thân xác không hề phản kháng của Thầy. Những trải nghiệm vô nhân đạo và gây chấn động mà Thầy buộc phải gánh chịu trong những giờ phút cuối cùng của cuộc đời trần thế, xét theo bất kỳ khía cạnh nào, cũng không phải là một phần trong ý muốn thiêng liêng của Đức Chúa Cha.
Đức Chúa Cha mong muốn người Con Giáng thế hoàn tất sự nghiệp trần thế một cách tự nhiên, cũng giống như mọi phàm nhân khác đều phải kết thúc cuộc đời mình trên cõi dân gian. Lòng thù hận, ác độc đều là tác phẩm của những kẻ ác. Thiên Chúa trên trời không hề muốn những điều đó xảy ra.
Thưa Thầy,
Cho đến hôm nay con vẫn không hiểu vì sao một tông đồ như Judas Iscariot đi theo Thầy suốt ba năm dài, cùng ăn uống cùng chia sẻ những vui buồn trên bước đường rao giảng Phúc Âm của Thầy, từng nghe những bài giảng về lòng yêu thương tha thứ, từng chứng kiến những phép lạ Thầy làm , cho kẻ mù được thấy, cho kẻ liệt được đi, cho người chết dù đã nằm trong mồ 4 ngày được sống lại, lại có thể phản bội Thầy. Ngay trước giờ Thầy bị bắt, Thầy đã cố gắng cứu Judas bằng cách tự xưng mình là người quân lính Roma muốn bắt
Quả thật như lời Thầy nói, ma quỷ đã nhập vào linh hồn Judas làm hắn quên đi tất cả ân nghĩa và lòng yêu thương của Thầy.
Comments
Post a Comment