April 11, 2025. QUÊ HƯƠNG VIỆT NGÀN ĐỜI MẾN THƯƠNG, Phương Tuấn

 



                                QUÊ HƯƠNG VIỆT NGÀN ĐỜI MẾN THƯƠNG

                                                                                                                               Phương Tuấn


Nhìn lại sử Việt để thấy Việt Nam là một dân tộc thông minh, tháo vát, ở đâu họ cũng sống được và sống mạnh. Có một điều ai cũng biết là người Việt không bao giờ đoàn kết. Họ rất khác những cộng đồng người Trung Hoa, tôi nói đây những người Trung Hoa tôi biết, không phải những người Trung Quốc bây giờ. Người Việt cũng rất khác những người Do Thái. Người Do Thái là những cộng đồng sống rất mật thiết với nhau. Từ những ngày một nhóm nhỏ trở về cố hương xưa là Palestine để dựng lại tổ quốc, còn lại những người ở rải rác khắp năm châu bốn biển, dù công việc họ là gì ở những nơi xa xứ đó, mỗi năm họ dành một tháng về giúp đồng bào họ ở Palestine.


Lịch sử Việt dựng nước có truyền thuyết Lạc Long Quân cưới bà Âu Cơ, sinh ra trăm trứng, nở ra trăm con, nhưng hai vợ chồng không ở chung với nhau để cùng kiến thiết đất Việt. Lạc Long Quân dẫn 50 con xuống biển và Âu Cơ đem 50 con lên non. Sao lại chia rẽ ngay từ đầu lịch sử dựng nước? Có người bảo đây là truyền thuyết. Truyền thuyết, nhưng chính tư tưởng rẻ chia đã có trong đầu người Việt mới sinh ra truyền huyết này.

Và cứ thế sự chia rẽ này xảy ra trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh.

Trịnh Nguyễn phân tranh vào giữa thế kỷ 17 và 18 (1627-1672 , 1672-1775) khoảng 150 năm, lấy sông Gianh làm biên giới chia Đàng Trong và Đàng ngoài, gieo rắc không biết bao nhiêu chết chóc và đau thương cho một dân tộc cùng một dòng giống, cùng một tiếng nói thống nhất.

Cuộc chiến 1627-1672

Trước sau trong 46 năm ròng rã, hai bên Trịnh–Nguyễn đánh nhau lớn 7 lần và một số lần đánh nhau quy mô nhỏ hơn. Chiến trường chủ yếu ở hai bờ sông Gianh, vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình ngày nay .

Hai bên đều có lợi thế và nhược điểm nên không thể tiêu diệt được nhau, tuy cùng mang khẩu hiệu "Phù Lê". Sau nhiều năm giao chiến, cả hai bên đều kiệt quệ về sức người sức của nên phải chấp nhận đình chiến, chia cắt lâu dài. Sông Gianh, sử sách hay gọi là Linh Giang, trở thành ranh giới chia nước Đại Việt thành Đàng Trong và Đàng Ngoài.

Họ Trịnh không thể tiến vào chiếm Thuận Hóa. Họ Nguyễn không thể ra Thăng nên dồn sức diệt Chiêm Thành, lấn sang Chân Lạp để mở mang bờ cõi vốn nhỏ hẹp về phía nam. Hai bên đều có những chúa cai trị giỏi nên ổn định được lãnh thổ suốt hơn 100 năm.

Đàng Trong và Đàng ngoài đánh nhau thêm 50 năm nữa từ 1672 đến 1775, cho đến năm 1778 nhà Tây Sơn xuất hiện với những chiến công hiển hách của Nguyễn Huệ đánh Xiêm, đánh quân nhà Thanh, nhưng một điểm đen trong nhà Tây Sơn là hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đánh nhau…

Tính đến nay đã 51 năm từ ngày 30/4/1975, nhưng dư âm cuộc chiến Nam Bắc Việt Nam vẫn mãi còn trong tâm tư người Việt. Không kể cuộc chiến từ 1946 đến 1954 chia đất nước thành hai chiến tuyến, lấy sông Bến Hải làm biên giới. Cuộc chiến này chỉ dừng lại có vài năm để bùng nổ mạnh từ 1960 đến 1975. 

Hôm nay ngồi viết những dòng này để thấy không biết bao nhiêu thương đau đã đổ xuống cả hai miền Nam Bắc trong một thời gian dài, và những người như tôi trong độ tuổi nhập ngũ những ngày đó đã đi qua cuộc chiến chinh, và không biết bao nhiêu anh em cùng một nòi giống đã đổ hận thù lên nhau, con cùng một Mẹ Việt Nam. Một người con nằm xuống, dù Bắc hay Nam đều có một người mẹ Việt Nam ở đâu đó khóc thương. Vô số những người vợ mất chồng, những người con mất cha, những người mẹ mất con, những cô gái mất người yêu…Đau thương ngút ngàn trên quê hương Việt, dù ngày hôm nay đất nước đã thống nhất nhưng lòng người vẫn còn chia rẽ.

Hôm nay ngồi viết những dòng này nhìn lại cuộc chiến Nam Bắc nghĩ rằng ngày những ngày xa xưa đó ở trong nước không có đủ thông tin để hiểu rõ sự việc này, phải bao nhiêu năm sau lịch sử mới sáng tỏ.

Ngay ngày vào quân đội chỉ lo săn sóc thương bệnh binh nhưng ít bao giờ tôi tự hỏi rồi cuộc chiến này đi về đâu? Sau những ngày tháng dài lo chửa trị thương binh tại Tổng Y Viện Cộng Hoà tôi xin về phục vụ tại Bệnh Viện Tiểu Khu Tuyên Đức. Đúng là một cuộc đổi đời. Mọi sự đều khác, từ một thành phố Saigon, thủ đô của Miền Nam và một Tổng Y viên với cấp số có khi lên đến 4,000 giường vì số thương bệnh binh quá tải, nhất là vào Mùa Hè Đỏ Lửa tháng 4 năm 1972, thương binh về với xe hồng thập tự hay bằng trực  thăng. Nay mỗi khi nghe tiếng máy bay trực thăng lại nhớ đến trực thăng tản thương đưa thương binh về Tổng y viện. Tội nghiệp, có ngày thương binh về kín Phòng lựa thương, băng ca để dọc dài trong phòng. Vì đâu quê hương tôi nên nỗi, khi những người Bắc phương cùng nòi giống đem trận chiến về sát thủ đô Saigon mến yêu của tôi. 

Tôi đến Đà Lạt, một thành phố im ắng, sương mù, tỉnh lặng với một bệnh viện Tiểu khu nhỏ bé vài chục giường, đúng là một cuộc đổi đời. Cuộc sống như chậm hẳn lại, thời gian như ngừng trôi. Bệnh viện nhỏ bé nằm trên đồi thông, cảnh vật tĩnh lặng. Chừng vài ba ngày mới có một xe hồng thật tự đưa thương binh về. Có những buổi chiều êm ả, chúng tôi bốn y sĩ sau khi hết việc trong ngày, lên phòng y sĩ trưởng ngồi uống trà, nói chuyện trong ngày, cũng chẳng bao giờ suy nghĩ có một ngày chúng tôi sẽ rời thành phố Đà Lạt thơ mộng này, vì cuộc chiến sẽ lan đến đây rất nhanh.

Đà Lạt vào năm 1973 là phố núi an lành trên một quê hương tràn đầy khói lửa. Hoa anh đào vẫn khoe sắc bên hồ Xuân Hương. Mimosa lá bạc hoa vàng vẫn mọc rải rác quanh đây trên những con đường của thành phố, hay trong vườn các villa kiến trúc theo kiểu Pháp…Tôi lại nhớ đến bài hát “Ai lên xứ hoa đào” của nhạc sĩ Hoàng Nguyên:

Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi. 

Nghe hơi giá len vào hồn người chiều Xuân mây êm trôi. 

Thông reo bên suối vắng, lời dìu dặt như tiếng tơ. 

Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ. 

Nghe tâm tư mơ ước Mộng Đào Nguyên đẹp như chuyện ngày xưa. 


Ai lên xứ hoa đào đừng quên bước lần theo đường hoa. 

Hoa bay đến bên người ngại ngần rồi hoa theo chân ai. 

Đường trần nhìn hoa bướm rồi lòng trần mơ bướm hoa. 

Lâng lâng trong sương khói rồi bàng hoàng theo khói sương. 


Những buổi chiều chúa nhật, gia đình tôi thường đến sân cù, nằm trên bãi cỏ ngắm trời mây, bên kia hồ Xuân Hương là trường trung học Yersin. Nhìn trường lại nhớ đến người bạn cố tri Vương Ngọc Lâm. Ngày đó xa lắm khi tôi và Lâm đã đậu xong tú tài I, trường trung học Pháp tại Đà Nẵng chỉ định hai đứa tôi lên Yersin tiếp tục học Tú tài II. Đến  phòng ghi danh của trường lúc 4 giờ 30 chiều. Ngày đó Đà Lạt có mưa phùn. Chúng tôi từ vùng biển mặn ấm áp quê Miền Trung, thấy Đà Lạt lạnh và buồn quá. Tôi bảo Lâm:

Lâm ơi, xứ gì mưa và buồn quá, hay là hai đứa mình xuống Saigon học thôi”.

Tưởng Lâm phản đối, nhưng Lâm đồng ý. Thế là hai đứa ghé Phở Ga, ăn xong, mua vé tàu xuống Saigon. Ba mẹ của Lâm và ba mẹ tôi cứ tưởng chúng tôi học ở Đà Lạt. Đúng là tuổi trẻ có chút máu điên và giang hồ, không biết  điều gì tốt xấu sẽ đón chúng tôi tại Saigon. Hôm nay nhớ Lâm da diết, Lâm có lẽ là người bạn thương tôi nhất, nói gì Lâm cũng nghe theo. Ngồi chung bàn với Lâm  suốt ba năm cuối trung học. Sau này ra trường, Lâm về Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương, Huế, ngày tan hàng Lâm đi tù 11 năm. Tội nghiệp, một y sĩ thật hiền lành, sao phải tội tình. Cuối cùng tôi cũng gặp lại Lâm năm 2,000 qua điện thoại, kể lại cho nhau nghe những kỷ niệm ngày trung học bên nhau. Ôi thôi chuyện bạn bè, chuyện tình đầu, bù khú, nói sao cho hết. Thế rồi Lâm bị bạo bệnh “ra đi” vào cuối 2011. Người bạn đời của Lâm người gốc Hoa, rất thương yêu Lâm, tôi gọi thăm, cô khóc thảm thiết. Mới đó mà bao nhiêu năm đã xa, và không có đêm nào trong giờ tĩnh lặng tôi không cầu nguyện cho Lâm,  biết chắc nay Lâm đã được ở nơi an bình. Lâm hiền quá, làm sao không về nơi nào khác hơn là nơi bình an?

Nhớ Lâm đi tù, lại nhớ cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ 1861-1865. Tưởng Grant Miền Bắc thắng trận đã đối xử rất lể độ với tướng Lee Miền Nam, để ông ra về với kiếm và ngựa. Không có trại tù, không có trả thù. 

Tượng đài kỷ niệm các tướng lĩnh Miền Nam nay còn trên Stone Mountain ở tiểu bang Georgia. Trên ngọn núi có khắc hình tượng những nhân vật nổi tiếng của Liên minh miền Nam: Jefferson Davis, tổng thống của Liên minh miền Nam, và các tướng Robert E. Lee và Thomas “Stonewall” Jackson. Nỗ lực tạo ra tượng đài Liên minh miền Nam trên núi Stone Mountain bắt đầu từ những năm 1910. Tuy nhiên, tượng đài chỉ được hoàn thành vào năm 1972. Ngày nay, ngọn núi và công viên xung quanh vẫn là một điểm thu hút khách du lịch và giải trí lớn với các đường mòn đi bộ, nhà hàng, khu cắm trại, bảo tàng, và thỉnh thoảng có cả trình diễn laser với hình khắc làm nền. Người dân Hoa Kỳ nay có thể treo cờ của Liên minh miền Nam nếu họ muốn. Dân Hoa Kỳ nghĩ rằng đây là lịch sử cần giữ lại.

Nhớ đến các tướng của Liên Quân Miền Nam Hoa kỳ thời Nam Bắc phân tranh, tôi lại nhớ đến thời gian phục vụ tại Trường Vỏ Bị Quốc Gia Việt Nam. Tôi làm việc tại Bệnh Viện Tiểu Khu Tuyên Đức không lâu, Cục Quân Y điều tôi về làm Y sĩ Trưởng Bệnh Xá Trường Vỏ Bị. Tôi chỉ gặp Chỉ Huy Trưởng là Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ khi về trình diện Trường có một lần, nhưng lại gặp chỉ huy phó là Chuẩn tướng Lê văn Thân nhiều lần. Thường ban sáng khi có người nhà là vợ hoặc các con nhỏ của ông đau, ông điện thoại;
Trước khi đến Bệnh xá, bác sĩ nhớ ghé nhà tôi xem bệnh cho các cháu. 

 Ông người Miền Trung, tuy là tướng nhưng ăn nói mềm mỏng với cấp dưới. Đầu năm 1974 ông được điều động về Quân Khu 2 làm chỉ huy phó và bị bắt làm tù binh, ở tù 17 năm. Rất tiếc tôi không gặp lại ông sau ngày ông qua Hoa Kỳ định cư để thăm ông. 17 năm tù của tướng Thân làm tôi liên tưởng đến thái độ anh hùng mã thượng của tướng Grant tiễn tướng Lee về Nam với ngựa và kiếm mang bên mình.

Liên quân miền Nam được tự do trở về quê hương làm ăn làm tôi tưởng nhớ đến cả triệu dân Miền Nam tìm đường vượt biên, vượt biển và từ đó có những danh từ như “Bộ Nhân” hay “Thuyền Nhân”. Bao nhiêu con dân Miền Nam đã bỏ mình trên đường vượt biên hay vượt biển để tìm cái sống tự do trong cái chết?

Một chuyện cảm động diễn ra vào năm 1979, khi tại một sân bay các nhân viên di trú Canada giúp đỡ cho người đi định cư. Giữa dòng người chờ lên máy bay cô Colleen Cupples để chú ý đến một bé gái Việt Nam đang khệ nệ xách một thùng lớn to gần bằng em. Qua thông dịch cô bé mở nắp thùng cho cô xem, và đấy là một thùng nước. Cô bé nghiêm trang nói: 

Khi gia đình cháu vượt biển rời Việt Nam, mọi người rất khát nước. Bây giờ cháu đi Canada. Cháu không biết nơi đó xa đến đâu, nhưng chắc chắn đó sẽ là một chuyến đi rất dài… cháu sợ khát, không muốn bị khát nước như trước nữa.”

Câu chuyện này được đăng trong Indochina Refugee Newsletter, số 6, ngày 22 tháng 8 năm 1979. Bài báo này được in lại trên trang 136 của tác phẩm Running on Empty, do Michael J. Molloy, Peter Duschinsky, Kurt F. Jensen và Robert J. Shalka đồng tác giả.

Thùng nước của bé gái có phải là nước biển Thái Bình Dương đã chôn vùi bao nhiêu thuyền nhân khốn khổ trên đường tìm tự do, hay là nước mắt của biết bao nhiêu gia đình, con mất cha, vợ mất chồng, anh em mất nhau? 

Một người đàn anh của tôi đã mất vợ và ba con, hai trai một gái vì hải tặc và thuyền chìm. Từ những năm tháng đó bao nhiêu nước mắt đã chảy…? Ôi quê hương và dân tộc Việt Nam khốn khổ của tôi. 

Và bao nhiêu nước mắt đã chảy trên cả hai chiến trường Nam Bắc trong suốt cuộc nội chiến. Nước mắt của các bà mẹ, của các bà vợ, của các cô thiếu nữ khóc người yêu…Người Miền Nam vẫn luôn nhớ đến các chiến cộng Hoà đã đổ bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, máu, và mạng sống mình trong bao năm chiến chinh để bảo vệ quê hương. Dù chúng ta đã thua trong cuộc chiến nhưng dân Miền Nam chẳng bao giờ quên công ơn các anh đã giữ gìn cho Miền Nam mến yêu được sống tự do trong 20 năm…

Cuộc chiến Nam Bắc chấm dứt ngày 30/4/1975, đến nay đã  51 năm, một nửa thế kỷ đã qua, nhưng sao đến tháng tư mỗi năm, tôi vẫn có một nỗi buồn khó tả. Quê hương Việt Nam để lại sau lưng, với biết bao nhiêu nỗi nhớ thương, bao nhiêu kỷ niệm của nửa đời người …Người Miền Nam thua cuộc, nhưng chúng tôi không bao giờ quên các chiến sĩ trong Quân Lực Miền Nam. Lịch sử ngày sau sẽ ghi nhớ công ơn tất cả các anh, và năm vị tướng đã tuần tiết, Phạm văn Phú, Lê văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Trần văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, và những anh hùng vô danh đã tuần tiết khi các anh hết đạn ngay tại cửa ngõ thủ đô Miền Nam mến yêu, tại vườn hoa vàng Tân Phú. Quân sử Việt Nam là một quân sử bi hùng. Thế kỷ 19 có Phan Thanh Giản và Hoàng Diệu, tuẫn tiết vì không giữ được thành, được nước. Thế kỷ 20 có 5 vị tướng trên cùng nhiều chiến sĩ vô danh đã tuần tiết không hàng.

Ôi Việt Nam của tôi, tôi vẫn mơ ước đây là trận chiến cuối cùng giữa các người anh em cùng màu da, cùng nòi giống, cùng tự hào là Con Cháu Rồng Tiên, Một Mẹ Trăm Con.

Phần kết bài tùy bút:

Lai lịch một tấm ảnh chụp ngày 27 tháng 4, 1975


Một tấm ảnh đi vào lịch sử miền Nam Tự Do.

Khi nhìn lại tấm hình này tôi đã thấy nước mắt hoen mi.


PARIS TRÀ ĐÀM OFFICIAL - ĐÌNH ĐẠI


Một lời cầu nguyện chân thành đưa tiễn nhiếp ảnh gia Trần Đình Thục về nơi an nghỉ ngàn thu.

Anh Trần Đình Thục mất ngày 15-3-2026 ở Quận Cam, California, hưởng thọ 85 tuổi. Anh Thục là cựu sinh viên Đại Học Kiến Trúc Sài Gòn, K63 (vào trường năm 1963). Năm 1970, anh qua Pháp học Kiến Trúc ở Beaux-Arts, Paris. Sang Mỹ năm 1983 anh làm trang trí nội thất cho các cơ sở Việt ở CA, trở thành nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp, và thiết kế bìa băng nhạc, sách, poster... Anh cũng chính là tác giả của bức ảnh nổi tiếng các sinh viên Việt Nam ở Paris vấn khăn tang xuống đường phản đối cộng sản xâm chiếm miền nam ! ** 

pastedGraphic.png

Lai lịch một tấm ảnh 30 Tháng Tư 2014 Trần Đình Thục... Tôi cũng không ngờ, khi chụp tấm hình anh chị em sinh viên Paris vào một ngày cuối Tháng Tư, 1975, ngày mà họ cấp bách làm một cuộc xuống đường qua các dãy phố thành phố Paris, để ủng hộ miền Nam Việt Nam và tưởng nhớ tới những chiến sĩ thân yêu đang hy sinh trong giai đoạn mịt mù khói lửa này, lại là một tấm hình lịch sử, đánh dấu sớm ngày tang thương của đất nước. Chỉ sớm trước có 3 ngày. Phải, trước đó, ròng rã suốt Tháng Ba, hình ảnh trên TV cho thấy người dân Đà Nẵng chạy loạn, hình ảnh các chiến trận hoang tàn, rồi cuộc rút lui chiến thuật bỏ đứt vùng cao nguyên, rồi việc Tổng Thống Thiệu từ chức, v.v... đã dồn dập chiếm trọn giờ tin tức trên đài truyền hình, khiến cho người sinh viên Việt, sống xa quê nhà có cảm tưởng như đang ngồi trên lửa bỏng. Tổng Hội Sinh Viên tại Paris do anh Trần Văn Bá làm chủ tịch lúc đó, đã quyết định phải làm một cái gì để nâng đỡ tinh thần bên quê nhà, mong ước chuyển về bên ấy chút tâm hiệp với các chiến sĩ đang khốn đốn vì bom lửa đạn. Họ, những người sinh viên thuộc vùng Paris và những vùng lân cận Orsay-Antony, Nanterre, đã kêu gọi nhau cùng tổ chức “Một Ngày Cho Quê Hương.” Trước tiên, phải là một cuộc xuống đường để ủng hộ miền Nam. Ngày 27 Tháng Tư, mọi người hẹn nhau tại Cư Xá Sinh Viên Quốc Gia trên đường Bertholet. Cư xá là một khách sạn 7 tầng, Hotel Lutèce, được sinh viên âu yếm gọi là Nhà Lý Toét, nằm ngay trong khu La Tinh, trung tâm của các ngôi trường đại học lớn của thủ đô Paris. Hotel Lutèce được chính phủ VNCH thuê dài hạn từ nhiều năm, để tá túc những sinh viên trong những năm đầu khi họ từ Việt Nam qua Paris du học, giống như một ký túc xá. Sinh viên đồng lòng thúc đẩy anh em xuống đường trong tinh thần tưởng nhớ những chiến sĩ đã hy sinh tại quê nhà để bản thân mọi người được tiếp tục trau giồi việc học nơi xứ người. Từng thước vải đen được trải ra, những dòng chữ:

 “Vinh Danh Các Chiến Sĩ Đã Nằm Xuống Cho Tự Do,”

 “Miền Nam Tự Do Bất Diệt,” 

“Ngày Đại Tang,” v.v... được viết bằng tiếng Pháp, chữ trắng trên nền vải đen. Mỗi người tự chít cho mình vành khăn trắng trên trán, phần để nói lên tâm nguyện của mình, phần để nhận diện nhau, tránh sự trà trộn trong lúc diễn hành của những phần tử “không quốc gia,” muốn phá hoại. Đúng 3 giờ trưa, anh em sinh viên bắt đầu cuộc tuần hành trong thầm lặng qua các dãy phố của Quận 5, khu đại học. Biểu ngữ được giương cao, bát nhang, lá quốc kỳ màu vàng ba sọc đỏ được căng rộng bốn góc, dẫn đầu cuộc tuần hành dài cả trăm người. Hoàn toàn trong im lặng, không hoan hô, đả đảo. Một sự chịu đựng đầy tôn nghiêm và trật tự. Khởi đầu đoàn người bắt đầu đi từ đường Gay Lussac, một đại lộ sát nách với Điện Panthéon, nơi chôn cất những vĩ nhân của nước Pháp như Voltaire, Victor Hugo, Marie Curie, v.v... Họ đi dọc xuống tới vườn Luxembourg, rồi quẹo mặt ra đường Boulevard St. Michel, đi ngang trước cửa trường La Sorbonne, ngôi trường Văn Khoa và Luật Khoa nổi tiếng của Paris. Đoàn người qua chiếc cầu Pont St. Michel, sau đó đổ ra đại lộ Rivoli rồi trực chỉ nhắm công trường La Concorde đi tới. Chữ La Concorde có nghĩa là “Đồng Tâm.” Anh em sinh viên, những đứa con của Miền Nam, đang thực sự hướng về quê nhà, đang thực sự đồng tâm chia sẻ nỗi điêu đứng của đất nước trong giai đoạn tàn tạ khốn đốn này. Bên đường, tiếng la lối của nhóm thiên tả cũng nhiều, tiếng khích lệ từ những người lớn lái xe qua “sao không làm sớm hơn?” cũng không ít. Anh chị em sinh viên vẫn âm thầm tiến bước. Ban báo chí của tổng hội trao tay cho những người qua đường những tờ bươm bướm in bằng máy roneo nói lên tình trạng của một nước tự do nhỏ bé đang bị cả khối cộng sản phụ nhau lấn chiếm. Cuộc tuần hành, không có giấy phép của tòa đô chính. Tình trạng đất nước đang ở giai đoạn khẩn trương, không còn thì giờ để xin phép qua thủ tục hành chánh rườm rà. Vả lại đơn xin chắc chắn cũng sẽ bị Tòa Đại Sứ Bắc Việt và cánh tả Pháp thiên Cộng phản đối, ngăn chặn. Bởi vậy phải tính chuyện liều mạng tổ chức một cuộc tuần hành chớp nhoáng, trong trường hợp bị chặn lại, cũng sẽ có tiếng vang trong giới báo chí, vẫn sẽ có những phản ứng thuận lợi về hình ảnh hiền hòa của một miền Nam đang bị xâm chiếm, trái ngược với những thỏa hiệp trong Hiệp Định Paris đã được ký kết ngay tại thành phố này. Cuộc tuần hành tuy không hợp lệ, nhưng lại là một thành công. Thành công ở chỗ đã không bị giải tán trong suốt lộ trình. Cơ quan công lực thành phố Paris thấy những khuôn mặt sinh viên trẻ Việt Nam tuần hành đông đảo, nhưng nghiêm túc, trong trật tự, không la hét, đập phá nên họ lẳng lặng theo sát, cuối cùng, cấp trên của họ đã tiếp xúc thẳng tại chỗ với người đại diện của Tổng Hội Sinh Viên là anh Trần Văn Bá. Sau khi đã biết rõ chủ đích ôn hòa và lộ trình của đoàn người, chính họ lại đích thân hộ tống đoàn tuần hành, giúp giải tỏa những khúc kẹt xe do cuộc xuống đường gây nên để giao thông có thể tránh và rẽ qua những hướng khác, một cách nhã nhặn êm thấm. Tôn chỉ của xã hội Pháp là “Liberté - Égalité - Fraternité” (Tự Do - Bình Đẳng - Nhân Ái) quả thật đã được tôn trọng một cách dân chủ. Riêng đối với niềm tin của những con dân đất Việt, hồn thiêng sông núi, vong linh các chiến sĩ của tiền nhân, hình như đã chứng giám và hỗ trợ cho lòng thiện tâm của lớp trẻ, nên màn đầu của chương trình “Một Ngày Cho Quê Hương” đã có được một cuộc tuần hành êm ả, thành công. Màn sau của cuộc biểu tình đã được dự trù là sau khi đã tới được công trường La Concorde rồi, sinh viên sẽ tới ngay trước cổng Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, nằm tại một góc của công trường La Concorde (cuối đường Rivoli) để phản đối chính sách Mỹ đã dồn miền Nam vào hoàn cảnh tang thương hiện tại. Nhưng khi đoàn sinh viên tới sát khu Tòa Đại Sứ Mỹ, thì nhân viên công lực Pháp, có sĩ quan cao cấp hiện diện, đã chặn đoàn biểu tình lại. Họ nhã nhặn nói: 

“Chúng tôi không thể để các bạn tới gần hơn nữa.” 

Tôn trọng luật lệ xứ người, anh chị em sinh viên đã dàn hàng ngang tại một góc công trường La Concorde, chênh chếch đối diện với Tòa Đại Sứ Mỹ, trang nghiêm làm nghi thức tưởng niệm các chiến sĩ và cất cao bài quốc ca miền Nam để kết thúc cuộc biểu dương tấm lòng chia sẻ nỗi đau thương với đất nước. Tiếng hát của 300 người trẻ tuy đông đảo nhưng nghe vẫn như mất hút, lạc lõng bơ vơ giữa cái không gian bao la của một công trường rộng lớn. Lạc lõng bơ vơ như thân phận côi cút của một mảnh đất nhỏ bé đang bị bỏ rơi, nằm bên kia quá nửa vòng trái đất. Đoàn biểu tình sau đó kéo nhau từng nhóm nhỏ về tụ tập tại trường Chính Trị Kinh Doanh của trường Đại Học Assas, nằm bên hông vườn Luxembourg. Giảng đường to lớn của trường đại học có khuynh hướng thân hữu này luôn luôn rộng mở cho những người con của miền Nam tự do. Tại đây, anh chị em sinh viên của cả ba khu đại học đã làm một đêm không ngủ, có hội thảo, có ca hát. Những bài hát quê hương, tranh đấu được anh em sinh viên tự hát an ủi nhau trong giờ phút khốn đốn của miền Nam nước Việt. Ba ngày sau, đâu ngờ, Sài Gòn thất thủ. Thôi rồi, thế là mất hết, mất Sài Gòn, mất quê hương, mất luôn ngày về của lớp trẻ vẫn hằng mơ ước một ngày có thể đóng góp phần trí tuệ của mình cho quê hương thân yêu miền Nam. ** Trần Đình Thục

Comments

Popular posts from this blog

June 30, 2024 60 Năm Sau, Phát Hiện Từ Một Gốc Cây Gây Chấn Động Nước Anh!

October 28, 2023 Con chính là tất cả cuộc đời của mẹ.

March 6, 2024 Việt sử Tân Biên, Phạm Văn Sơn