April 3, 2026. ĐƯỜNG NÀO CHÚA GIÊSU LÊN ĐỒI GOLGOTHA?, Phương Tuấn

                                       ĐƯỜNG NÀO CHÚA GIÊSU LÊN ĐỒI GOLGOTHA?

                                                                                                        Phương Tuấn

  


Thầy nói,

”Thầy sinh xuống trần gian này để làm người như chúng con”.

Làm người như chúng con”, để hiểu được sự vui mừng cũng như sầu khổ, hiểu được sự đói khát như no đủ, hiểu được nắng gắt như lạnh cóng, hiểu được hy vọng như thất vọng, hiểu được sự ấm cúng cùng người thân cũng như cô đơn tột cùng. 


Đường nào Thầy lên đồi Golgotha?

Sau khi ra khỏi tòa tổng trấn Philatô (Pilate), những người lính La Mã đặt thánh giá lên vai Thầy, đây chỉ là một cây ngang ngắn, không phải thánh giá có hai thân dài và ngắn như chúng con thường thấy. Phần dài của thánh giá đã có sẵn tại đồi Golgotha. Hai kháng chiến quân cùng bị kết tội cũng vác thánh giá đi cùng.

Đáng lẽ đường lên Golgotha từ thành Jerusalem phải theo con đường dài nhất để có nhiều người xem tội nhân, nhưng ngày hôm đó, các lính La Mã đã dẫn Thầy đi con đường ngắn nhất lên đồi, bằng cách qua cổng Damascus của thành Jerusalem, như vậy là ra khỏi thành phố bằng cổng phía bắc. 

Quá khỏi đồi Golgotha là những villas của những người giàu có và phía bên kia đường là nghĩa trang của các gia đình giàu có người Do Thái.


Quả thật xử tội chết bằng cách đóng đinh tội nhân trên thập giá không phải là tập tục của người Do Thái, nhưng đây là lối hành xử tội nhân của người Hy Lạp và La Mã. Người La Mã không dùng lối hành phạt này cho công dân họ, nhưng dành cho những người nô lệ. Thời gian Thầy bị kết tội, dân tộc Do Thái bị đế quốc La Mã đô hộ.


Trên đường lên Golgotha, nhiều người đàn bà thương Thầy đã than khóc, nhưng Thầy nói:

“Hỡi những người đàn bà thành Jerusalem đừng khóc thương Ta, các người hãy khóc thương chính mình và con cái của các người. Sứ mạng Ta đã xong, nay Ta về với Cha Ta. Thời gian đau khổ và vô cùng khó khăn sẽ đổ xuống thành phố Jerusalem, những ngày đó các người sẽ nói: 

“Phúc cho những người vô sinh, và vú của các người không có con trẻ bú mớm. Những ngày đó các người sẽ cầu mong những tảng đá trên đồi đổ xuống để được chết, để khỏi hứng chịu những thảm khốc và âu sầu.” 

Quả thật những người đàn bà khóc thương Thầy là những người vô cùng can đảm, họ không có quyền thương xót những tội phạm bị đem đi đóng đinh, họ có thể bị phạt khi khóc than.

Khi Thầy nói những lời này với các người đàn bà, Thầy đã nói tiên tri về sự việc sẽ xảy ra cho dân chúng thành Jerusalem khoảng 40 năm sau, đó là năm 70 A.D. khi quân dân Do Thái đứng lên khởi nghĩa chống lại chế độ đô hộ của Đế quốc La Mã. Lính La Mã bao vây thành Jerusalem và sau nhiều ngày đã vào được thành dẹp tan cuộc nổi dậy. Hàng ngàn kháng chiến quân Do Thái sau đó bị đóng đinh trên thập giá trên đồi Golgotha. Đây là những tinh hoa của dân tộc Do Thái. Một số thanh niên khỏe mạnh được đưa về Rome làm giác đấu đánh nhau đến chết để mua vui cho các quan chức và dân La Mã. Tất cả dân chúng Do Thái còn lại bị đưa đi lưu đày phải rời bỏ quê hương mình.

Ngay những giây phút đau khổ của Thầy trên thế gian, Thầy cũng quên mình và nghĩ đến đau thương của dân tộc Do Thái 40 năm sau.

Có phải đây là luật nhân quả (karma), khi Thầy bị kết án trong dinh Philatô? Khi Philatô cố gắng cứu Thầy không được đã bảo người hầu đem thau nước cho ông rửa tay, và nói:

 "Ta vô tội với máu người này". Và dân Do Thái đã hô lớn:

"Máu của Người này sẽ đổ trên chúng tôi và con cái chúng tôi". Lời nguyền rủa này đã theo dân tộc Do Thái suốt 2,000 năm dài cho mãi đến năm 1948, dân Do Thái lưu vong trên toàn thế giới mới được trở về quê hương cũ là Palestine, với muôn ngàn biến động cho đến nay vẫn chưa chấm dứt.


Thầy đã vô cùng đuối sức, vì không có một miếng thức ăn nào và một ngụm nước nào từ sau Bữa Tiệc Ly tại nhà Elijah Mark, cha của John Mark. Qua một đêm bị đưa đi xử tội từ dinh Annas, qua dinh thầy thượng phẩm Caiaphas, qua dinh tổng trấn Philatô, qua dinh vua Herod, và cuối cùng đưa về dinh Philatô để kết tội chết, bị đánh đập qua đêm, bị sĩ nhục…Trên đường lên Golgotha Thầy đuối sức, cộng thêm sự căng thẳng tinh thần và nỗi cô đơn khủng khiếp.

Vừa qua khỏi cổng Damascus, Thầy quỵ xuống không chỉ do sức nặng của cây ngang thánh giá, nhưng quỵ xuống vì nỗi buồn khổ tột cùng trong tâm hồn. Những người lính La Mã hét lên, đá vào người Thầy, bắt Thầy đứng lên tiếp tục vác thánh giá, nhưng Thầy không đứng dậy nỗi. Thấy vậy người sĩ quan La Mã chỉ huy đoàn người dẫn tội phạm can thiệp không cho các lính La Mã hành xử như vậy. Ông thấy một người đi gần đó và ra lệnh cho ông này vác thánh giá thay Thầy.  Đó là ông Simon, đến từ thành phố Cyrene, miền bắc Phi Châu, vác thánh giá thế cho Thầy lên tận đồi Golgotha.

Người sĩ quan La Mã sau này tin Thầy, và trở thành người tôn thờ Thiên Chúa.

Simon về thành Jerusalem để dự lễ Vượt Qua, ông bị các lính La Mã chận lại ngoài cửa Damascus, và được lệnh giúp Thầy. 

Sau khi Thầy sống lại, ông là người theo Thầy, cùng hai người con trai của ông, Alexander, và Rufus thành những thầy đi rao giảng Phúc Âm Thiên Quốc tại châu Phi.


Vào khoảng 9 giờ sáng ngày thứ sáu hôm đó, đoàn người dẫn Thầy lên đến đồi Golgotha.

Người sĩ quan La Mã gắn một biển nhỏ ghi dòng chữ trên cây thánh giá:

Jesus người Nazareth, vua Do Thái bằng 3 thứ tiếng, Latin, Hy lạp, và Aramaic.

Dưới chân thánh giá ngày hôm đó chỉ có Gioan là tông đồ duy nhất, Maria Mẹ của Thầy, Ruth, Jude, Salome (mẹ thánh Gioan), Mary vợ của Clopas (chị của Maria, Mẹ của Thầy), Mary Magdalene, và cô Rebecca, hoa khôi Nazareth, người khi vào sinh nhật 17 tuổi đã mong được cưới Thầy.


Vào khoảng 9 giờ 30 sáng Thầy đã bị đóng đinh vào thập giá, và có khoảng gần 1000 người tò mò lên đồi xem, nhưng cũng có một số xót thương đi theo tiễn Thầy. 

Khi bị lính La Mã đóng đinh Thầy đã cầu nguyện :

“Lạy Cha, xin Cha tha thứ cho họ vì họ không biết việc họ làm”. 


Câu nói làm Thầy vượt lên trên tất cả những đại tiên tri xuống thế gian này. Thầy không chỉ tha thứ cho những người Thầy yêu, Thầy dạy chúng con tha thứ cho những kẻ phản mình, giết mình. Và Thầy cũng hy sinh mạng sống mình cho chúng con, những người Thầy yêu.

Quả thật không có Tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của kẻ hy sinh mạng sống mình cho người mình yêu.


Trên thập giá Thầy đã nói với Mẹ Maria khi nhìn Gioan:

"Hỡi Bà, đây là con của Bà", và nhìn Gioan tông đồ Thầy nói:

" Hỡi con, đây là Mẹ của con". 

Những ngày sau Gioan đưa Mẹ Maria về nhà, săn sóc, mến yêu Mẹ như Mẹ mình. Sau lễ Vượt Qua, Mẹ Maria trở lại Bethsaida và ở cùng Gioan cho đến hết đời Mẹ. Cái chết đau thương thảm khốc của Con Mẹ trên thập giá làm Mẹ đau buồn không nguôi... Mẹ sống không tới một năm sau khi Thầy chết trên thập giá. Như vậy là Mẹ về trời khoảng 51 tuổi.


Người kháng chiến quân bị treo bên tay phải Thầy nói:

"Xin Ngài  nhớ đến tôi khi Ngài về nước của Ngài". Và Thầy nói:

'Quả thật, Ta nói với ngươi, tối nay ngươi sẽ ở cùng Ta trên nước Thiên Đàng".

Khoảng quá 1 giờ trưa trưa ngày thứ sáu, một trận bảo cát dữ dội nổi lên, trời bỗng tối sầm. Những người lính La Mã xúm tụm vào nhau dưới chân các thánh giá để tránh bảo cát. Những người lên đồi xem đã vội trở lại Jerusalem. Trong những phút đen tối đó của trời đất và của Thầy, thần trí nửa tỉnh nửa mê Thầy đã nhớ đến những câu Thánh Vịnh 20, 21, 22, và những đoạn Kinh Thánh Hebrew, và những người dưới chân thánh giá nghe được:

“Lạy Cha, lạy Cha, sao Cha bỏ Con”.


Vì Thầy đã tự nguyện xuống trần gian này sống như chúng con, nên Thầy cũng đói khát như chúng con. Vào buổi trưa khi các lính La Mã ngồi ăn dưới thánh giá, Thầy bảo: 

”Ta khát”, nhưng Thầy không dùng uy quyền là Con Thiên Chúa để làm phép lạ, như những lần Thầy nuôi ăn 5000 người nơi đồng không mông quạnh, với 5 ổ bánh mì và hai con cá.


Vào khoảng trước 3 giờ chiều , Thầy nói:

“Mọi sự đã xong. “ 

“ Lạy Cha, Con xin phó thác linh hồn Con trong tay Cha”, và trút hơi thở cuối cùng.

Dưới chân thánh giá khi đó có Gioan Zebedee tông đồ, Jude, Ruth, Mary Magdalene, và cô gái Rebecca. Mẹ của Thầy đã được Gioan đưa về lại Jerusalem vì Thầy không muốn Mẹ chứng kiến Con mình trên thập giá, và Gioan trở lại đứng dưới chân Thầy khi Thầy lìa cõi trần. Thầy ra đi sau khi đã lo an nguy cho các tông đồ và bảo họ trốn đi khi Thầy bị bắt.


Joseph Arimathea và Nicodemus đã vào dinh Philatô xin xác Thầy về để trong mồ của nghĩa trang riêng của gia đình Joseph Arimathea.

Hai người này là dân Pharisee, riêng Nicodemus có chân trong Hội Đồng Do Thái Giáo. Lúc trước hai ông theo Thầy cách lén lút, nhưng sau khi Thầy chết trên thập giá, hai người này ra công khai.

Comments

Popular posts from this blog

June 30, 2024 60 Năm Sau, Phát Hiện Từ Một Gốc Cây Gây Chấn Động Nước Anh!

October 28, 2023 Con chính là tất cả cuộc đời của mẹ.

March 6, 2024 Việt sử Tân Biên, Phạm Văn Sơn