May 5, 2026. Tiếng Nước tôi, Phương Tuấn

                                                            TIẾNG NƯỚC TÔI

                                                                                      Phương Tuấn


Trong lịch sử âm nhạc Việt, có nhiều nhạc sĩ nổi tiếng, nhưng có hai khuôn mặt nổi bậc được nhắc đến cho tới ngày nay. Đó là Văn Cao và Phạm Duy. Cả hai đều tham gia kháng chiến, nhưng Phạm Duy sớm “dinh tê” trở về Hà Nội, và ngược lại Văn Cao tình nguyện ở lại, hay là bị kẹt lại vùng Việt Minh. Ngày trước Văn Cao đã nổi tiếng với các nhạc phẩm “Thiên Thai”, “Trương Chi”, “Buồn tàn thu”, “Suối mơ”, “Đàn chim Việt”, sau này đổi thành “Bến Xuân”, và trong thời kháng chiến chống Pháp với nhạc phẩm “Trường ca sông Lô” diễn tả chiến thắng của quân Việt trên sông Lô với đoàn tàu chiến Pháp bị phục kích trên sông này. 

Nhạc sĩ Đỗ Nhuận cũng khá nổi tiếng trong thời gian này với nhạc phẩm “Du kích sông Thao”, nhưng cho đến nay chẳng còn ai nhắc đến tên ông.

Khi trở về Hà Nội, Phạm Duy đã viết nhiều ca khúc, có lẽ nhờ đất nước dù trong chiến tranh vẫn còn trên quê hương nhưng vẫn có tự do, nên dòng nhạc của Phạm Duy vẫn tiếp tục chảy. Ông là người sáng tác rất dài hơi và đủ mọi thể loại. 

Văn Cao ngược lại, chẳng sáng tác được gì trong một thế giới bị siết chặt về tự do, nhất là sau vụ “Nhân Văn Giai Phẩm” hay “Trăm Hoa Đua Nở”, ông bị xem như thành phần phản động. Đến cuối đời Văn Cao đã thốt lên:

“Tôi đã phí cả cuộc đời”.


Trong các nhạc phẩm của Phạm Duy phải kể đến bài hát: “Tiếng nước tôi”.

“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi. Mẹ hiền ru những câu xa vời. À à ơi, tiếng ru muôn đời. Tiếng nước tôi, bốn ngàn năm ròng rã buồn vui. Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi. Tiếng nước tôi, tiếng mẹ ru từ lúc nằm nôi. Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi. Tôi yêu tiếng ngang trời. Những câu hò giận hờn không nguôi. Nhớ nhung hoài mảnh tình xa xôi. Vững tin vào mộng đẹp ngày mai”…

Ngày hôm nay người ta phát giác những thai nhi khi nằm trong bụng mẹ cũng nghe được tiếng mẹ ru. Mẹ tôi sinh được tất cả 8 người con, nhưng có những anh em chết khi còn nhỏ, thời xa xưa đó y tế còn vô cùng thô sơ nên trẻ con có thể lên cơn sốt một hai ngày rồi mất.

Khi tôi lớn lên khoảng 3 hay 4 tuổi thường hay ngồi trong lòng mẹ và nghe mẹ ru em tôi trong chiếc nôi nhỏ để ngay trong hiên nhà, nơi mẹ vừa ru em vừa trông hàng quán. Tiếng Việt là một thứ tiếng đồng nhất, nhưng giọng nói khác nhau, có khi rất khác nhau tùy theo Miền hay Vùng. Những giọng khó nghe nhất có thể kể là Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Bình, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định. Mẹ tôi sinh tại làng Mỹ Khê, Phố Hàn nên giọng bà là giọng Quảng. Giọng Quảng cũng theo vùng không giống nhau, giọng Phố Hàn rất khác giọng của những làng xã huyện Điện Bàn chỉ cách phố Hàn 17 cây số. Khi về quê, một làng nhỏ tại huyện Điện Bàn, tôi cũng không hiểu được những người anh em cô cậu tôi nói gì, vì giọng nói của họ rất nặng.

Tôi sinh ra tại làng Hải Châu, phố Hàn, và lẽ dĩ nhiên nói giọng Quảng, nhưng sau này một thời gian trung học ở nội trú Thiên Hữu, Huế, lớn thêm chút nửa vào Saigon học tú tài 2, vào y khoa một thời gian dài. Vào quân đội làm việc tại các quân y viện trong Nam khá lâu, tôi có cảm tưởng mình người Saigon, giọng nói đã khác.

Từ 3 tuổi tôi đã thuộc nằm lòng những câu ca dao mẹ ru em:

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ,

Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con.

Mẹ già như chuối chín cây

Gió lay mẹ rụng con thời mồ côi

Lên non mới biết non cao,

Nuôi con mới biết công lao mẫu từ

Ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi

Khó đi mẹ dắt con đi

Con đi trường học, mẹ đi trường đời

Mẹ già như chuối ba hương

Như xôi nếp một như đường mía lau

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều…”

Mẹ hát ca dao nhiều lắm, từ đầu buổi em tôi được đặt vào nôi cho tới khi em tôi nhắm mắt riu riu chìm vào giấc ngủ thần tiên của tuổi thơ. Ngày hôm nay ngồi đây viết lại những lời ca dao mẹ ru em tôi bên dòng sông Hàn, sao nhớ mẹ chi lạ, nước mắt hoen mi. Tuổi thơ tôi đó bên dòng sông với những câu ca dao mộc mạc dễ hiểu, dễ thương, dễ đi vào lòng đứa bé 3 tuổi, dù khi đó chưa đủ trí khôn để hiểu hết ý nghĩa của từng chữ từng câu.

“Mẹ già như chuối chín cây,

Gió lay mẹ rụng con thời mồ côi.” 

“Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều…”

Ngày mẹ tôi rời cõi trần, tôi không được diễm phúc đứng bên giường mẹ tiễn mẹ đi, hôn mẹ và nói với mẹ một lời yêu thương.

Nếu mẹ hát ca dao ru em, thì cha ngâm thơ. Đó là thời gian tôi lớn thêm một chút khoảng 9, 10 tuổi.

 Thời gian này ba tôi không còn làm việc cho một hãng tư người Pháp nhưng đã có một hiệu buôn riêng khá phát đạt. Thời gian đó tôi đang học Tiểu học. Thường ba thường nằm trên phản gõ và ngâm nga những vần thơ yêu nước của cụ Phan Bội Châu, như bài “Xuất dương lưu biệt”. Bài thơ được sáng tác vào năm 1905 trước lúc tác giả sang Nhật Bản tìm một con đường cứu nước mới, ông làm bài thơ này để giã từ bè bạn, đồng chí.

XUẤT DƯƠNG LƯU BIỆT

“Sinh vi nam tử yếu hy kỳ.
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di!
Ư bách niên trung tu hữu ngã.
Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy.
Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,
Hiền thanh liêu nhiên tụng diệc si!
Nguyện trục trường phong Đông hải khứ:
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”



TÔN QUANG PHIỆT dịch 

“Làm trai phải lạ ở trên đời,
Há để càn khôn tự chuyển dời.
Trong khoảng trăm năm cần có tớ,
Sau này muôn thuở, há không ai?
Non sông đã chết, sống thêm nhục,
Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài!
Muốn vượt bể Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.”

Bài này ông ngâm nhỏ thôi, chỉ có mình tôi nghe nhiều lần và thuộc nằm lòng. Thỉnh thoảng ông cũng ngâm một vài đoạn trong Chinh Phụ Ngâm:

“Ngòi đầu cầu nước trong như lọc,


Đường bên cầu cỏ mọc còn non.


Đưa chàng lòng dặc dặc buồn,


Bộ khôn bằng ngựa, thuỷ khôn bằng thuyền.



Nước có chảy mà phiền chẳng rửa,


Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây.


Nhủ rồi tay lại cầm tay,


Bước đi một bước lại vương bóng chàng”


“Chàng thì đi cõi xa mưa gió

Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn

Đoái trông theo đã cách ngăn

Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh.

Chốn Hàm Dương  chàng còn ngoảnh lại

Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang

Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương

Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng .

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai ?”  ...


Tôi không thấy ông ngâm Kiều.

Hôm nay viết về cha để thương ông, dù sinh ra trong đầu thế kỷ 20, một thời nặng về lễ giáo của Nho giáo và Khổng giáo, cha không bao giờ dạy con bằng roi vọt. Ông dạy các con trong nhà bằng chính đời sống của ông.

Tiếng nước tôi ngoài ca nhạc, văn thơ còn có những hình thức đi sâu vào cuộc sống dân chúng. Cha mẹ tôi ngày xưa đó say mê cải lương. Ngày xưa tôi không hiểu được tại sao ông bà ta say mê Cải Lương và Hát Bội. Những nghệ nhân Cải lương nổi tiếng thời ba mẹ có Phùng Há, Năm Phỉ, Năm Châu, Minh Vương, Lệ Thủy, Tấn Tài, Minh Phụng, Thành Được…

Tiếng Việt cũng có thể nói lái, một cách nói không có dân tộc nào có thể bắt chước được. Sau ngày 30/4/1975, dân Miền Nam hay nói được ”giải phóng” thành được “phỏng d…:, hay “hộ khẩu” thành “hậu khổ”…


Tiếng Việt độc âm, cũng có thể dùng một chữ cái thôi như chữ “R”, và đặt thành một câu bắt đầu bằng chữ “R” như:

“Rầu rĩ, râu ria ra rậm rạp, rờ răng, răng rụng, rờ rún, rún rung rinh…”

Đôi khi với một chữ bắt đầu bằng chữ “T”, có thể viết cả một câu chuyện với tất cả mọi chữ trong bài bằng chữ “T”.


Tiếng Mỹ có một đại danh từ “You”, họ hay gọi người thương họ”Honey do this, honey do that…

Tiếng Pháp có ”Vous”, hay thân mật hơn “Tu”.

Tiếng nước tôi thì thiên hình vạn trạng. Ba mẹ tôi thường gọi nhau bằng chữ “MÌNH”. 

“Mình ơi, làm cho tôi cái này, mình ơi cho tôi cái kia…”

Vậy “Mình” nghĩa là gì. Mình có nhiều nghĩa. “Mình” có thể là chính bản thân của mình, đồng thời “mình” cũng là người bên kia. Nhưng “hai mình” cũng là MỘT, hợp nhất, nghĩa là một nửa của mình, một nửa người bên kia. Ôi thân thiết làm sao!


Hai người yêu gọi nhau bằng hai danh từ “Em’ và Anh”, nghe thắm thiết, không phải “You” và “I” khô khan.

Tiếng nước tôi cũng có những danh từ xưng hô rất dễ thương trong dòng họ gia tộc…, như ông bà nội ngoại, cô, dì, chú, bác…:

Ngoại ơi, con thương ngoại lắm…” thay vì “I love you”, không biết mình nói thương ai.




Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân thành lập chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam tại Sài Gòn ngày 1-6-1948, ban hành “Pháp quy tạm thời” (Statut Provisoire), chọn bài “Tiếng gọi thanh niên” làm quốc ca. (Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng, California: Nxb. Xuân Thu, 1989, tr. 75.) Bản quốc ca bắt đầu bằng câu “Này thanh niên ơi …” Sau này nền Đệ Nhất Cộng Hoà tìm thêm hai bài hát nhưng cuối cùng hai bài sau này không được chọn làm quốc ca để thay thế bài “Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi…”:

Việt Nam Minh Châu Trời Đông” của nhạc sĩ Hùng Lân và bài hát “Việt Nam, Việt Nam “ của nhạc sĩ Phạm Duy.

Việt Nam minh châu trời đông”, nói lên một quê hương gấm vóc bên bờ biển Đông, với lời hát nhẹ nhàng trong sáng, với lời thề son sắt của con dân Việt dành cho quê hương.


Việt Nam minh châu trời đông. 

Việt Nam nước thiêng tiên rồng 

Non sông như gấm hoa uy linh một phương. 

Xây vinh quang ngất cao bên Thái Bình Dương. 

Từ ngàn xưa tài danh lừng lẫy khắp nơi 

Tiếng anh hùng tạc ghi núi sông muôn đời 

Máu ai còn vương cỏ hoa 

Giục đem tấm thân trải với sơn hà. 

Giơ tay cương quyết ta ôn lời thề ước 

Hy sinh xương máu mong báo đền ơn nước. 

"Dù thân này tan tành chốn sa trường cũng cam. 

Thề trọn đời trung thành với sơn hà nước Nam !”.


Bài Việt Nam, Việt Nam


Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời 

Việt Nam hai câu nói bên vành nôi 

Việt Nam nước tôi. 


Việt Nam, Việt Nam tên gọi là người 

Việt Nam hai câu nói sau cùng khi lìa đời 

Việt Nam đây miền xinh tươi 

Việt Nam đem vào sông núi 

Tự do công bình bác ái muôn đời.


Việt Nam không đòi xương máu 

Việt Nam kêu gọi thương nhau 

Việt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu 

Việt Nam trên đường tương lai, 

Lửa thiêng soi toàn thế giới 

Việt Nam ta nguyện tranh đấu cho đời. 


Tình yêu đây là khí giới, 

Tình thương đem về muôn nơi 

Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người 

Việt Nam! Việt Nam! 

Việt Nam quê hương đất nước sáng ngời 

Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam muôn đời.



Bài Việt Nam, Việt Nam có câu :”Việt Nam hai tiếng nói sau cùng khi lìa đời.”

 Đây là tiếng “Việt Nam, Việt Nam”, của 13 anh hùng Quốc dân đảng (VNQDĐ)đã hy sinh tại Yên bái.  Danh tánh của 13 Liệt sĩ đã lần lượt lên máy chém: Bùi tử Toàn, Bùi văn Chuẩn, Nguyễn An, Hồ văn Lạo, Đào văn Nhít, Nguyễn văn Du, Nguyễn đức Thịnh, Nguyễn văn Tiềm, Đỗ văn Tứ, Bùi văn Cửu, Nguyễn như Liên, Phó đức Chính và cuối cùng là Nguyễn thái Học. Tãt cả các Liệt sĩ lên đoạn đầu đài đều hô to: “Việt Nam muôn năm”. 

Người Nữ Anh hùng Nguyễn thị Giang, một đảng viên VNQDĐ lặng lẽ tuẫn tiết theo Đảng Trưởng là người yêu của nàng…

Và cũng là hai tiếng cuối cùng “Việt Nam” trước khi lìa đời của biết bao nhiêu anh hùng vô danh đã hy sinh cho tổ quốc. Không quên anh hùng Trần văn Bá từ Pháp quay về cứu quốc, và cựu tỉnh trưởng Chương Thiện, Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, chiến đấu sau lệnh đầu hàng của tướng Dương văn Minh.

Và gần 1,000 năm trước Trần Bình Trọng đã bảo quân Nguyên Mông:

“Ta thà làm quỷ phương Nam còn hơn làm vương đất Bắc”.

Những anh hùng này như những ánh chớp đi vào hồn thiêng sông núi gìn giữ non sông tổ quốc Việt ngàn đời mến yêu.


Để kết thúc tuỳ bút, mời các bạn nghe một tuyệt phẩm của nhạc sĩ Nguyễn văn Đông, “Sắc hoa màu nhớ” để cảm nhận khi tiếng Việt hát lên tuyệt diệu đến cỡ nào.


  https://youtu.be/EO70VGRBbfM?si=0cWV8qrcoUzez8Ot




 



 



 




Comments

Popular posts from this blog

June 30, 2024 60 Năm Sau, Phát Hiện Từ Một Gốc Cây Gây Chấn Động Nước Anh!

October 28, 2023 Con chính là tất cả cuộc đời của mẹ.

March 6, 2024 Việt sử Tân Biên, Phạm Văn Sơn