June 7, 2026. ĐẠI VIỆT HẢI NGOẠI HAY NHỮNG BƯỚC CHÂN BÁCH VIỆT, Phương Tuấn
| |||
ĐẠI VIỆT HẢI NGOẠI HAY NHỮNG BƯỚC CHÂN BÁCH VIỆT
Phương Tuấn
Cuộc chiến vệ quốc của Miền Nam Việt Nam kéo dài nhiều năm. Sau Hiệp Định Đình Chiến ký tại Paris vào tháng 1/1973, các quân đội Đồng Minh phải rút hết khỏi Miền Nam trong khi quân đội Bắc Việt được phép ở lại Miền Nam. Một điều khoản thật vô lý, và sau khi Hoa kỳ rút dần và cắt tất cả quân viện cho Miền Nam đưa đến cuộc sụp đổ của Việt Nam Cộng Hoà vào ngày 30/4/1975.
Từ ngày tang thương đó đến nay tính tròn 51 năm chẵn, một khoảng thời gian vô cùng đau thương cho toàn dân Việt phía Nam vĩ tuyến 17. Đau thương không xiết, từ một vùng đất tự do, chiến đấu can trường, bỗng chốc mất hết tất cả. Miền Nam thành kẻ thua trận cay nghiệt không phải vì thiếu lòng dũng cảm trong chiến đấu, nhưng bị bạn bè phản bội. Từ sau ngày tang thương đó, nhà tù, khu kinh tế mới được dựng lên, rồi vài ba lần đổi tiền, dân miền Nam mất trắng của cải tiền bạc. Đời sống bị bóp nghẹt và toàn dân như mất không khí thở. Trừ những quân nhân còn ở trong tù, ngoài đời đã bắt đầu những cuộc trốn chạy. Đó là những tinh hoa của dân tộc vẫn nghĩ tổ quốc Việt Nam cần họ ở lại để kiến thiết đất nước sau bao nhiêu năm chinh chiến tương tàn.
Cuộc trốn chạy đường bộ vượt biên qua Campuchia, những người này có tên mới là ”bộ nhân’. Chết vô số trên con đường qua Thái Lan vì Cộng sản Việt, Cộng sản Miên, mìn dọc đường, hoặc bị lừa gạt.
Con đường vượt biển có lẽ nhiều nhất với vô số những chuyện thương tâm nay đầy rẫy trên Internet như: hải tặc, sóng to biển dử. Nhiều con tàu thiếu nước, thiếu thức ăn lênh đênh không bến bờ, người ăn thịt cả xác chết những người trên tàu… Đó là những người mang tên “thuyền nhân”.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước 4,000 năm của tộc Việt dù là trong những năm gọi là “1,000 năm đô hộ giặc Tàu, hay 100 năm đô hộ giặc Tây” chưa bao giờ con dân bỏ nước Việt ra đi tức tưởi và lớn như lần này, dù đi là chín phần chết, một phần sống.
Thật ra không phải chỉ có cuộc di tản lớn sau 30/4/1975.
Trong lịch sử dân tộc Việt cũng có những cuộc di tản nhỏ hơn tuỳ theo biến cố thời gian, như cuộc di tản sau khi Hai Bà Trưng thất trận với Mã Viện.
Khi Hai Bà Trưng bị Mã Viện nhà Hán đánh bại, một số tướng lảnh của Hai Bà cùng một số dân chúng lên thuyền xuôi Nam đến đảo Sumatra, Indonesia và định cư tại đây.
Một cuộc di tản thứ hai được định hình vào thế kỷ 13 khi Trần Thủ Độ cố tâm đưa nhà Trần lên thay thế nhà Lý. Sau khi ép buộc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, ông quyết tâm tiêu diệt dòng họ nhà Lý. Để tránh bách hại, Hoàng tử Lý Long Tường là con vua Lý Anh Tông cùng một đoàn tùy tùng theo thuyền lên hướng Bắc vào đất Cao Ly, được vua Cao Ly trọng dụng sau làm lên đến chức Tể tướng. Hậu duệ của ông lập nên dòng họ Lý Hoa Sen. Nay dòng họ này mỗi năm về thăm cố hương là làng Đình Bảng, Bắc Ninh.
Cuộc trốn chạy khỏi quê hương to lớn nhất vẫn là trốn chạy sau 30/4/1975. Và họ đi đâu, cùng khắp năm châu bốn biển.
Theo dõi trang BLOG tôi thấy có người Việt khoảng trên 100 nước, từ Bắc Mỹ như USA, Canada, Mexico, qua đến Âu Châu như Germany, France, Spain, Austria, Italy, Hungary, Romania, Switzerland, United Kingdom, Poland, Netherlands, Sweden, Portugal, Belgium, Turkiye, đến những nước như Lithuania, Russia, Belarus, Ukraine…vòng qua Châu Á với Hong Kong, Japan, Singapore, China, India, Bangladesh, Indonesia, Thailand, South Korea, Cambodia, Malaysia, xa xôi như Mongolia…qua Trung Mỹ với Panama, Ecuador, Costa Rica, Nicaragua, Colombia…xuống Nam Mỹ với Argentina, Brazil, Venezuela, Chile, Uruguay…Có những nước ngày xưa nằm trong Liên Bang Xô Viết như Azerbaijan, Uzbekistan, Kyrgyzstan…những nước ở Trung Đông như Israel, Jordan, Iraq, Syria, Qatar, Saudi Arabia, Oman…những nước ở châu Úc như Australia, New Zealand…những nước ở châu Phi như Algeria, Morocco, Ghana, South Africa, Ethiopia, Senegal, Kenya, Angola, Tanzania, Congo Brazzaville, Western Sahara…những đảo ở Đại Tây Dương như Cape Verde…những hải đảo Tanzania, Jamaica, Dominican Republic, Trinidad, Tobago, Barbados, St. Lucia…và cả những vùng quanh năm băng giá như Iceland…
Ôi người Việt thương mến của tôi, biến cố long trời lở đất ngày 30/4/1975 đã làm tan đàn xẻ nghé. Dân tộc Việt nay thành một giống Do Thái da vàng đi cùng khắp thế giới và dừng chân nơi đất nước nào nhận họ vào tỵ nạn, và chúng ta gọi họ là : “Do Thái da vàng”.
Nhìn lại lịch sử Do Thái:
Vào năm 587-586 TCN, Đế chế Tân Babylon đã chinh phục Vương quốc Judah; người Judea mất đi nền độc lập của mình sau cuộc bao vây Jerusalem của người Babylon. Thời gian đó Đền thờ thứ nhất đã bị phá hủy. Sau khi người Babylon sáp nhập Judah làm một tỉnh, một phần dân chúng Do Thái đã bị lưu đày đến Babylon. Đây là thời gian nô lệ. Giai đoạn lưu vong này kéo dài gần năm thập kỷ, kết thúc sau khi Đế chế Tân Babylon bị Đế chế Ba Tư Achaemenid chinh phục. Ngay sau cuộc chinh phục, vua Ba Tư Cyrus Đại đế đã ban hành một tuyên bố được gọi là Sắc lệnh Cyrus, khuyến khích những người Do Thái lưu vong trở về quê hương. Người Ba Tư biến nơi này thành một tỉnh tự trị do chính người Do Thái cai quản. Dưới thời người Ba Tư (khoảng năm 539–332 TCN), dân Do Thái trở về đã khôi phục lại quê hương và xây dựng lại Đền thờ ở Jerusalem.
Sau đó Cộng hòa La Mã đã chinh phục vương quốc Do Thái. Năm 37 TCN, người La Mã đã bổ nhiệm Herod Đại đế làm vua Judea. Năm 6 CN, Judea đã được sáp nhập hoàn toàn vào Đế chế La Mã với tư cách là tỉnh Judea. Sự bất mãn ngày càng tăng với sự cai trị của La Mã và các cuộc bạo loạn dân sự cuối cùng đã dẫn đến Chiến tranh Do Thái-La Mã lần thứ nhất (năm 66–73 CN), dẫn đến sự phá hủy Jerusalem và Đền thờ của nó, chấm dứt thời kỳ Đền thờ thứ hai. Sau cuộc nổi dậy thất bại này, dân tộc Do Thái bị đi đày một lần thứ hai và tản mác cùng thế giới…
Dân Việt lưu vong nhưng không nô lệ, họ đi tìm tự do và không khóc bên dòng sông Babylon như dân tộc Do Thái. Đa số họ định cư tại Hoa Kỳ, nhập vào “Land of the free, Home of the brave”. "Đất nước của người tự do, Nhà của người dũng cảm".
Họ làm những việc gì ở quê hương thứ hai này?
Dân tộc Việt siêng năng, cần cù, họ đã vươn lên ngay từ thế hệ thứ nhất, và nay đến thế hệ thứ hai, thứ ba, giúp phát triển những nói họ định cư.
Chỉ nói riêng ở Hoa Kỳ, họ thành công trong đủ mọi ngành nghề, từ học thuật, y tế, khoa học, thương mại, quân sự và cả trong hệ thống cầm quyền.
Như tại Hoa Kỳ, Hùng Cao nay là quyền Bộ trưởng Hải quân, một chức danh vô cùng quan trọng chỉ huy bộ Hải quân lớn và hùng mạnh nhất thế giới.
Hiện tại có 7 vị tướng gốc Việt trong quân đội, 1 vị đã về hưu là Lương Xuân Việt, cựu chỉ huy Lục quân Hoa Kỳ tại Nhật Bản.
Họ ở cùng khắp trong NASA, giảng dạy trong các trường đại học lớn có uy tín.
Lẽ dĩ nhiên có những thành phần không hội nhập được vào nước sở tại, gây ra những tội phạm, nhưng nói chung số này chỉ là thiểu số.
1,000 năm, 2,000 năm nữa, hay xa hơn, rải rác trên địa cầu này vẫn còn những người mang dòng họ Nguyễn, Đinh, Lê, Lý, Trần…và họ vẫn nhớ rằng cha ông họ nguyên là những “bộ nhân”, “thuyền nhân” đã đến nơi họ đang sinh sống, từ một quê hương rất xa, đó là Việt Nam ngàn đời mến thương.
Một ngày đứng bên bờ biển Florida, nhìn những ngọn sóng chập chùng, nhớ về Biển Đông xưa, chạnh lòng nghĩ đến những thuyền nhân như gia đình chúng tôi, vượt biển nhưng không tới được bến bờ tự do. Họ ở lại đâu đó trong lòng biển xanh Thái Bình. Nhớ tới họ, lòng tôi bỗng chùng xuống…bao nhiêu người?... có người bảo khoảng 250,000 có người bảo 400,000…không ai biết chính xác. Ôi, những người Việt khốn khổ của tôi!
Xin Thiên Chúa đưa họ về nơi bình an, nơi không còn chém giết, chiến tranh, và xa lìa, nơi tràn đầy yêu thương và bình an vĩnh cửu…
Hậu duệ Thuyền nhân Việt đời thứ 3:
https://youtu.be/AVCfIr1cO8M?s



Comments
Post a Comment