July 2, 2026. THÁNG SÁU TRỜI MƯA, Phương Tuấn

                                                 THÁNG SÁU TRỜI MƯA

                                                                                          Phương Tuấn


Tiểu bang Florida nằm về phía cực Tây Nam Hoa kỳ, mệnh danh là “Sunshine State”, “Tiểu bang Ánh dương”, quanh năm có ánh nắng. Florida là bán đảo với mỏm chót là thành phố Miami, nằm phía cực nam, ngày xưa cách đây trên 70 năm chỉ là một thành phố nhỏ nằm êm đềm bên bờ biển giữa Đại Tây dương và Vùng Vịnh nay mang tên Vịnh America. Một chuỗi đảo nhỏ kéo dài đất nước Hoa Kỳ tử mõm cuối của Florida gọi là The Keys, và Key chót là Key West, nơi có căn nhà của đại văn hào Ernest Hemingway, với tác phẩm nổi tiếng của ông: “The Old Man and The Sea”. Nay căn nhà này là bảo tàng, du khách khi đến Key West có thể viếng thăm.

Sau khi có làn sóng “thuyền nhân” hay ”bè nhân”, của dân Cuba, Miami trở thành một trong những thành phố lớn năng động. 

Khí hậu Florida nhất là Trung và Nam của tiểu bang rất giống Saigon, hai mùa mưa nắng. Từ đầu tháng 6 và đến cuối tháng 11 mỗi năm là mùa mưa và giông bão.

Có những lần mưa nửa đêm, hạt mưa rơi mạnh trên mái ngói, gió và mưa tạt vào cửa sổ làm thức giấc. Mưa, nhất là mưa đêm làm nhớ quê nhà, một quê nhà đã thật xa trong không gian, nhưng vẫn còn rất gần trong ký ức để mỗi khi mưa đêm về lại thoáng qua trong tâm hồn.

Căn nhà phố lầu đầu tiên của ba mẹ tại Phố Hàn nằm trên đường bờ sông.  Dòng sông Hàn ngay trước mắt và bến đò cận kề với những con đò ngang đưa khách sang sông qua làng An Hải và Mỹ Khê là quê ngoại. Từ những làng chài ven biển đi về phía Nam sẽ gặp ngọn núi Ngũ Hành Sơn, đi tiếp sẽ đến phố cổ Hội An.

Phố Hàn ngày xa xưa đó dễ thương và êm đềm. Thời đó Việt Nam là thuộc địa của Pháp, hầu như không có trộm cướp. Các căn phố lầu, không có các cánh cửa sắt như bây giờ, nhưng những mái liếp bằng lá dừa, sáng chống lên và tối sập xuống.

Những cơn mưa đêm lại đưa ký ức tôi trở về phố Hàn, sống lại những ngày đầu đời êm đềm trong tình thương yêu của cha mẹ, anh em, bạn bè. Ngày xa xưa đó phố Hàn nhỏ bé lắm, tôi đã từng đi bộ sáng đi trưa về, chiều đi chiều về ngày hai buổi đến trường. Chân tôi như chân sáo bay nhảy trên những con đường của phố Hàn thân quen.

Một kỷ niệm thật dễ thương những ngày xa xưa. Ngày đó tôi sáu tuổi và bé Mai hàng xóm 5 tuổi ở sát vách nhà là đôi bạn thân, ngày nào cũng gặp nhau. Mẹ bé Mai là cô Lộc, tôi không thấy ba của bé Mai bao giờ, chỉ có ngoại của bé Mai, bà trạc trên 50 tuổi, tóc hoa râm, rất hiền. Một hôm tôi hóc xương cá, chắc xương nhỏ thôi, mẹ đang kiếm cách giúp tôi, bé Mai qua nhà chơi thấy thế bảo:

“Ngoại của Mai biết cách chữa hóc xương cá.

Thế là mẹ dẫn tôi qua nhà bé Mai. Ngoại bé Mai bảo:

“Ngoại bảo gì con làm nấy nghe.”

Thế là ngoại hạ tấm rèm  căn phố nơi ngoại ở xuống, hai tay  chắp lại và ngước mắt lên trời cầu nguyện. Ngoại bảo: 

‘Con nhắc theo lời ngoại”:

“Con xin Ơn Trên chữa cho con lành chứng hóc xương cá”.

Tôi lặp lại y lời, ngoại tiếp tục cầu nguyện thêm ít phút nữa, xong chống rèm lên và bảo:

“Con nuốt nước miếng thử xem, xương cá mất tiêu rồi phải không?”

Mà quả thật tôi nuốt nước miếng thấy cổ họng không còn vướng xương cá nữa.

Tôi chỉ vui đùa với bé Mai có 3 năm. Khi ba mẹ làm ăn khá giả hơn đã xây một villa nhỏ trên đường Marc Pourpe, nay là Phan Châu Trinh, tôi về nhà đó và xa bé Mai. Nay sau bao nhiêu năm vật đổi sao dời, không biết bé Mai còn hay đã đi xa miền miên viễn!

 Bé Mai ơi, nay bé ở đâu, có còn nhớ người bạn tuổi thơ bên bờ sông Hàn ngày xưa? Cô Lộc và ngoại của bé Mai nay đã thành “người muôn năm cũ”.


Lại mưa đêm, đưa ký ức tôi quay lại ngày xưa thật xa. Ngày tôi lên 7 tuổi được vào lớp tư, nay gọi là lớp 2, trường Tiểu học Hoà Vang. 

Hoà Vang là ngoại ô của phố Hàn. Đó là những năm cuối Thế Chiến 2. Người bạn thân cùng tuổi là Nguyễn văn Chung, (tên đã đổi). Sáng nào tôi cũng ghé nhà bạn và hai đứa cùng đến trường. Hình ảnh người bạn vẫn mãi trong trí tôi rõ như mới gặp ngày hôm qua. Sáu giờ sáng tôi đã có mặt tại nhà Chung, và Chung ngồi chồm hổm trên phản đang ăn cơm nguội, dưới ánh đèn dầu tù mù. Thằng bạn học cùng tôi đến Đệ thất thì xa nhau. Sau này anh vào quân đội lên đến chức đại uý Công binh, đi tù 4 năm. Khi anh về thì vợ đã sang ngang, với lý do vợ ở nhà với 5 con còn nhỏ, tứ cố vô thân, không tiền bạc nuôi đàn con còn quá nhỏ dại. Anh buồn, ly dị vợ nhưng vẫn đưa các con qua Mỹ theo diện bảo lãnh. Cuối đời anh hư thận, chạy thận được hơn 5 năm lại vướng thêm hai cục bướu ác tính trong não. Con gái anh cho hay anh đã “ra đi” êm ái, nhẹ nhàng cách đây một tuần. Tôi lại khóc bạn,  một người bạn tuổi thơ.


Tháng sáu trời vẫn còn mưa. Mưa đêm, giọt mưa tí tách ngoài hiên nhà đưa tâm trí về một thời đã xa, thật xa, ngày tôi đang ở Y khoa 4, thực tập tại Bệnh viện Từ Dũ. Đến ngày cuối khóa thực tập, cả toán anh chị em chúng tôi kéo nhau ra sân cỏ chụp tấm ảnh kỷ niệm. Tôi vẫn còn nhớ những khuôn mặt bạn bè ngày đó: Chị Yên, quên họ vì đã lâu, chị Trà Mỹ, anh Trần Tấn Trọng, anh Hoàng Khải Nguyên, anh Thái Bổn Vinh, anh Đinh Hải Tùng, anh Dương Hồng Huân, anh Dương quốc Bảo, và nhất là anh Phạm Đình Bách…Bách người Bắc, rất vui, hiền tánh và dễ thân thiện. Không biết trong toán có anh nào nói tiếu lâm câu gì, làm Bách cười lăn trên sân cỏ. Hình ảnh tôi ngày đó vui như sáo, chân chim bay nhảy, vô tư với cuộc sống, không biết rằng sẽ có một ngày rất gần tôi mất những người bạn thân quen tôi thương mến.

Quân y sĩ Phạm Đình Bách, Y sĩ Trung úy thuộc khóa 13 Quân Y Hiện Dịch, tử trận vào cuối năm 1967. Anh hy sinh tại mặt trận khi phục vụ trong một đơn vị Bộ binh chỉ vài tháng sau khi tốt nghiệp ra trường. 

Chi tiết về vị trí đóng quân hoặc trận đánh chính xác nơi anh hy sinh hiện chưa được ghi chép công khai cụ thể trong các nguồn tài liệu mở, tuy nhiên sự hy sinh của anh đã được ghi nhận trong danh sách tưởng niệm của tập thể Quân y QLVNCH. Theo lời kể của một y tá theo anh, Bách bị thương không di chuyển được, người y tá kéo anh vào một lùm cây, và anh đã bị đối phương tìm thấy và giết chết.

Bách ơi, mình vẫn nhớ Bách trong kinh nguyện mỗi ngày. Bách ra đi sớm quá, quả thật khoá y khoa bọn mình thi Clinic cuối năm 1966, và Bách về đơn vị ngay. Phần mình là trưng tập phải thêm sáu tháng tập quân sự và học Chiến Tranh Chính Trị nên ra đơn vị sau Bách 6 tháng, vào giữa năm 1967.


Những cơn mưa đêm đầu mùa làm nhớ những trận mưa rừng Đà lạt. Mưa đêm bao giờ cũng buồn đánh thức ký ức để nhớ chuyện xưa. Đó là những năm 1973, 1974 gần cuối cuộc chiến vệ quốc của dân quân Miền Nam. Mưa rừng dữ dội, như thác đổ, không giống những cơn mưa Saigon,  chợt mưa rồi chợt nắng. Những ngày xa xưa đó tưởng gần mà đã trên nửa thế kỷ, chôn dấu bao nhiêu kỷ niệm cùng mơ ước của tuổi thanh xuân khi mới bước vào đời. Tôi và người bạn đường đã mơ một ngày quê hương im tiếng súng, hết khói lửa, sẽ xây một căn nhà gỗ trong rừng thông Đà Lạt. Nhà sẽ có lò sưởi, vườn có mimosa và hoa anh đào.

Đà Lạt đẹp, mơ màng, nhưng ở lâu lại nhớ Saigon, Saigon của những thập niên 1960 thế kỷ trước cũng để lại trong tôi không biết bao nhiêu kỷ niệm êm đềm. Tôi sinh ra tại phố Hàn nhưng học tập, sống và làm việc nhiều năm tại Saigon, thủ đô yêu dấu của Miền Nam xưa.

Những đêm mưa làm nhớ Saigon, nhớ những ngày đầu đời mới quen người bạn gái, sau này là bạn đường lên đèo xuống dốc. Ôi ngày đó xa xưa lắm nhưng đẹp làm sao. Nhớ những tối Chúa nhật hai đứa đi chơi, tối về đói bụng ngồi ăn tô phở của gánh phở bên vệ đường, nơi Chợ Cũ. Hay những lần vào quán Sing Sing trên đường Trần Quý Cáp ăn cơm chiên Pháp với moutarde, hay những lần ghé các quán phở đường Hiền Vương, quán bánh mì Ba Lẹ Đa Kao, hay bánh mì Bưu điện…Ôi, ngày xưa, những ngày xưa thân ái đó, cả hai đứa nhìn đời bằng đôi mắt mộng mơ. Nhớ những chiều trước khi vào Ciné Lê Lợi mua bánh mì chiên tôm, hay ngồi Pôle Nord ăn kem, nhìn thiên hạ bát phố Saigon. Ôi Saigon, Saigon của hai đứa yêu nhau ngày xưa đó sao quá dễ thương.

Nhớ Saigon, nhớ từng con đường thân quen. Từ ngỏ hẻm Cô Bắc, quận 1, rẽ ra đại lộ Trần Hưng Đạo, rẻ trái Pasteur đưa tôi đến trường Trung Học Marie Curie năm chót Tú tài 2, trên đường đi và về có cô bạn gái hàng xóm sau tôi hai lớp đi cùng.

Con đường nào từ Cư xá sinh viên Đắc Lộ đưa tôi đến Cơ Thể Học Viện trên đường Trần Hoàng Quân Chợ Lớn hai năm Y khoa 1 và 2 để học cùng Thầy Nguyễn Hữu. Đường nào đưa tôi đến Bệnh viện Nguyễn văn Học để gặp hai thầy Nguyễn Thế Minh và Trần Lữ Y kính mến. Đường nào đưa tôi đến bệnh viện Bình Dân gặp các thầy ở khoa Ngoại thương. Ôi những con đường, những con đường nào kể sao cho xiết. Saigon như máu thịt của tôi trong bao nhiêu năm học hành, vui chơi…



Cũng một đêm mưa tháng sáu, cánh cửa sổ phòng ngủ rung lên trước cơn gió giật làm thức giấc, bỗng nhớ đến đường Duy Tân Saigon xưa, con đường tôi đã đi qua nhiều lần sau các đêm trực tại Tổng Y Viện Cộng Hoà. Duy Tân có lẽ là một trong những con đường thơ mộng và đẹp nhất của thủ đô Saigon xưa. Cơn mưa đêm làm nhớ đến bài hát đầy cảm xúc ”Trả lại em yêu” của đại nhạc sĩ Phạm Duy. Bài hát nói lên lời từ biệt của chàng sinh viên từ giả người yêu để đi vào chinh chiến:


”Trả lại em yêu khung trời đại học

Con đường Duy Tân cây dài bóng mát

Buổi chiều khuôn viên mây trời xanh ngát

Vết chân trên đường vẫn chưa phai tàn.

“Anh sẽ ra đi về miền cát nóng

Nơi đó quê hương mịt mù thuốc súng

Anh sẽ ra đi về miền mênh mông

Cơn gió cao nguyên từng đêm lạnh lùng

 

“Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó

Đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ

Đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ

Anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về

“Trả lại em yêu mối tình vời vợi

Ngôi trường thân yêu bạn bè cũ mới

Đường buồn anh đi bao giờ cho tới

Nỗi đau cao vời nỗi đau còn dài.

“Trả lại em yêu! trả lại em yêu

Mây trời xanh ngát


Trong Quân y viện tôi đã chứng kiến những thương binh chết trên băng ca khi họ được đưa vào Phòng lựa thương chưa kịp săn sóc, họ đã ra đi vì vết thương quá nặng…Ôi đây có phải là những sinh viên ngày xưa đã trả lại trường học cho người yêu để đi vào gió cát? Và các anh đã trả lại “các em yêu mây trời xanh ngát…?”

Còn gì buồn hơn, khi các anh vội vã ra đi không nói được lời từ biệt người mình thương. Ôi chiến tranh trên quê hương mến thương của tôi ngày đó đã cướp đi những tuổi đời son trẻ mang trong lòng biết bao nhiêu ước mơ trong sáng. Trong những người trả nợ núi sông ngày đó còn có những người cha đã để lại những con thơ, đã để lại những người vợ trẻ chờ chồng. Ôi biết bao nhiêu là thương tiếc.

Những cơn mưa đêm tháng sáu làm nhớ đến bài hát “Người ở lại Charlie” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, tiếc thương Đại tá Nguyễn Đình Bảo. Quả thật ngày đó dân chúng thủ đô Saigon không biết đồi “Charlie” nằm ở đâu, như câu hát ”Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành”.  

“Anh! Anh! Hỡi anh ở lại Charlie 

Anh! Anh! Hỡi anh giã từ vũ khí 

Vâng, chính anh là ngôi sao mới 

Một lần này chợt sáng trưng 

Là cánh dù đan bằng tiếc thương vô cùng 


Này anh! Anh! Hỡi anh ở lại Charlie 

Anh! Vâng, chính anh là loài chim quý 

Ôi, cánh chim trùng khơi vạn lý 

Một lần dậy cánh bay 

Người để cho người nước mắt trên tay 


Anh ơi, địa danh nào thiếu dấu chân anh ? 

Đợi anh về 

Chỉ còn trên vầng trán đứa bé thơ, 

tấm khăn sô bơ vơ 

Người góa phụ cầu được sống trong mơ 


Toumorong, Dakto, Krek, Snoul 

Ôi Dambe, Đức Cơ, Krek, Snoul 

Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu 

Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, 

vừa ở lại một mình 

Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành. 


Anh! Anh! Nhớ anh trời làm cơn bão 

Anh! Anh! Tiếc anh chiều rừng thay áo 

Ôi! Vết đau nào đưa anh đến 

Ngàn đời của nhớ thương 

Hỡi bức chân dung trên công viên buồn”

… 


Những cơn mưa đêm đưa tôi về miền quá khứ thăm lại bạn bè xưa từ thuở còn thơ đến khi trưởng thành, những người bạn thân yêu còn hay đã đi vào vùng miên viễn. Quê hương Việt Nam đó nay chỉ còn trong kỷ niệm, một quê hương nơi tôi đã sinh ra, lớn lên, mang không biết bao nhiêu mộng ước, một quê hương chiến tranh tràn đầy, đau thương nhiều hơn vui sướng, nước mắt tiếng khóc nhiều hơn tiếng cười, nhưng sao tôi vẫn yêu thương nó.

Hôm nay ngồi viết đây trên quê hương thứ hai,

 “đất nước của những người tự do, và nhà của những người dũng cảm”.

“Land of the free and home of the brave”.

Cảm tạ Thiên Chúa đã đưa gia đình tôi đến đất nước này. Cảm tạ những tiền nhân dựng nước và giữ nước để ngày hôm nay những gia đình tỵ nạn như chúng tôi đến đây nhận đất nước hùng mạnh nhất, nhưng cũng không thiếu lòng nhân ái làm quê hương thứ hai. Mong rằng đời đời con cháu chúng tôi sẽ chẳng bao giờ quên đại công ơn đó và sẽ tiếp tục góp phần xây dựng đất nước này ngày một tươi đẹp hơn. Chẳng phải vậy mà trong dịp Đại hội túc cầu 2026, những du khách từ các nơi đến, đặc biệt là Âu Châu đã kinh ngạc thấy một Hoa Kỳ thật hùng mạnh, sung túc, phồn thịnh và hiếu khách.  

                                                             Phương Tuấn




Comments

Popular posts from this blog

June 30, 2024 60 Năm Sau, Phát Hiện Từ Một Gốc Cây Gây Chấn Động Nước Anh!

October 28, 2023 Con chính là tất cả cuộc đời của mẹ.

March 6, 2024 Việt sử Tân Biên, Phạm Văn Sơn