August 3, 2026. HAI QUÊ HƯƠNG, Phương Tuấn

 

                                                   HAI QUÊ HƯƠNG 


                                                                                                  Phương Tuấn


Sau biến cố long trời lở đất 30/4/1975, dân Việt di tản  ra cùng khắp thế giới, lớp đi tỵ nạn, lớp “xuất khẩu lao động”. 

Cộng đồng người Việt nay ở trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tại Hoa kỳ có khoảng 2.3 triệu người Mỹ gốc Việt trong đó có 1,6 là diện tỵ nạn thế hệ đầu tiên, 98% tập trung tại 21 quốc gia, dẫn đầu là Hoa Kỳ, sau  đến Canada, Úc, Pháp…

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt là một bản hùng ca, trải dài 4,000 năm thể hiện khí phách can cường và trí tuệ của cha ông đoàn kết chống ngoại xâm.

Thời Đinh và Tiền Lê mở đầu kỷ nguyên độc lập sau một thời kỳ nhiều năm dưới ách đô hộ của giặc Tàu sau thất bại của hai nữ anh hùng Hai Bà Trưng, và sau là Triệu Trinh Vương.

Năm 981 vua Lê Hoàn chỉ huy quân dân đánh tan quân Tống trên sông Bạch Đằng và vùng Chi Lăng, giữ vững bờ cõi.

Thời Lý khẳng định chủ quyền vững chắc, nổi bật là chiến thắng trên sông Như Nguyệt năm 1077 do Lý Thường Kiệt chỉ đạo. Ngày đó bài Thơ ”Nam Quốc Sơn Hà” vang lên, hào hùng, đập tan ý chí xâm lược của quân Tống, bảo vệ nền độc lập Đại Việt.


Nguyên văn Hán –Việt:


“Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.’


Bản dịch nôm của Nguyễn Tri Tài:

Sông núi nước Nam, vua nước Nam ở,

Phân vị rạch ròi đã ghi trong sách trời.

Cớ sao lũ giặc bạo ngược đến xâm phạm,

Chúng bây rồi xem, sẽ chuốc lấy thất bại tan tành.

Lý Thường Kiệt


Thời Trần, những chiến thắng vĩ đại mang tính lịch sử, tiêu biểu nhất là trận Bạch Đằng 1288, nơi Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn sử dụng cọc ngầm trên sông tiêu diệt và bắt sống toàn bộ đạo thuỷ binh hùng mạnh của quân Nguyên-Mông. Trước đó quân dân nhà Trần cũng đánh tan giặc Nguyên-Mông này ba lần.

Thời Lê sơ, đỉnh cao của nghệ thuật quân sự, với chiến thắng Chi Lăng-Xương Giang 1427, tại ải Chi Lăng quân dân Lam sơn đã phục kích chém đầu tổng chỉ huy quân Minh là Liễu Thăng, đập tan viện binh địch và đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi.

Thời Nguyễn, tiếp nối truyền thống chống ngoại xâm kiên cường, hoàng đế Quang Trung thần tốc tiến ra Bắc đại phá 29 vạn quân Thanh vào năm 1789.

Vua Gia Long thống nhất sơn hà, con vị vua này là hoàng thái tử Nguyễn Phúc Cảnh (1780-1801) được giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine) đưa sang Pháp học tập, hấp thụ văn minh, khoa học, và kỹ thuật quân sự Tây phương từ nhỏ, rất tiếc ông bị bệnh đậu mùa mất sớm. Nếu không mất sớm ông có thể giúp Đại Việt phát triển đất nước theo những gì ông học được ở Pháp, với đầu óc cởi mở tiến bộ, cho phép đất nước tiếp cận sớm với công nghiệp phương Tây. Rất tiếc vận nước đi đường khác, và từ khi Minh Mạng lên ngôi và sau đó là Thiệu Trị, Tự Đức đàn áp Thiên Chúa giáo, bế quan toả cảng. Chính lý do này làm người Pháp có lý do đưa quân xâm chiến Đại Việt và đặt ách đô hộ.

Nếu, và lại chữ Nếu hoàng tử Cảnh không chết, sau khi trở về Đại Việt, thời gian đó vua cha vẫn còn sống sẽ giúp vua cha canh tân Việt Nam. Việt Nam với địa thế vô cùng thuận lợi, tiếp giáp biển Đông và tiền rừng bạc biển hơn hẳn Nhật Bản, sẽ không chỉ là con rồng Đông Nam Á, mà là một cường quốc. Nhưng chữ “nếu” không có và từ đó trải dài thế kỷ 19 và cả thế kỷ 20 Việt Nam tụt hậu, đưa đến chiến tranh giành độc lập, và chiến tranh ý thức hệ giữa anh em hai miền Nam Bắc.

Vì sao một dân tộc kiên cường như vậy nay con dân lại bỏ nước ra đi, trong đó có gia đình tôi. Có lẽ ước muốn được sống tự do theo ý mình mạnh hơn tình yêu quê hương chăng. Tính từ ngày bỏ nước ra đi nay gần nửa thế kỷ, bỏ lại quê hương dấu yêu với muôn ngàn kỷ niệm tuổi ấu thơ, nơi tôi đã trưởng thành, nơi tôi đã gắn bó yêu thương cả một nửa đời người. Ôi Việt Nam của tôi, vẫn mãi là một VIệt Nam tôi yêu. Nay Việt Nam xa tôi ngàn dặm, những đêm mưa hình ảnh lại thoáng về trong ký ức. Những gì tôi biết và thương yêu, đó là Việt Nam của tôi ngày xưa, và những con người Việt tôi quen biết trước 30/4/1975. Nước Việt đó không còn nữa, chỉ còn trong kỷ niệm. Cảnh cũ người xưa nay đã mất. Nếu tôi có về sống lại trên quê hương sẽ như một Lưu Nguyễn lạc đào tiên trở về làng cũ nay đã khác xa, người và cảnh chẳng còn gì như Lưu Nguyễn thấy ngày trước. 

Gia đình tôi trôi dạt đến xứ Hoa Kỳ, sau những chặng đường giông bảo tưởng con tàu đời mình chìm trong cơn bảo tố của cuộc đời. Tôi đã đến đây. 


“The land of the free, the home of the brave” 

Đất nước của người tự do,

 Nhà của người dũng cảm.

“Đến đây sẽ ở lại đây,

Đến khi bén rễ nên cây mới về”

Nhưng mà về đâu? Vì đây là chốn tận cùng của con đường đi tìm tự do, đời đời con cháu sẽ ở lại đây, xây dựng đất nước này ngày càng tươi đẹp hơn.
Hoa Kỳ một đất nước lạ lùng. Người Âu Châu qua xem World Cup đã thốt lên: 

Một đất nước đẹp lạ lùng, tự do vô cùng, và đời sống thoải mái. Họ đã nói tiếng nói trung thật, đất nước này không hoàn hảo nhưng đây quả thật là nơi đáng sống. Một đất nước mênh mông có tới 7 múi giờ, khí hậu từ băng giá như Alaska đến nhiệt đới như Nam Florida, những đô thị với nhà cao tầng chọc trời đến những công viên quốc gia hoang sơ hùng vĩ như Grand canyon ở Arizona, Yellowstone ở Wyoming. Công viên quốc gia Yosemite ở California với cây cổ thụ Sequoia trên 2,000 năm tuổi, hơn tuổi đời của đất nước này. Đối với người Âu Châu cái gì cũng lạ, cái gì cũng to lớn rộng rãi vì một tiểu bang như một đất nước với những sắc thái, ẩm thực khác nhau. Họ lạ lùng khi mua một ly nước ngọt, cái ly lớn gấp bội ly ở xứ họ, và có thể rót uống bao nhiêu ly cũng chỉ trả có một lần. Họ cũng vô cùng ngạc nhiên thấy dân Mỹ vui vẻ hiếu khách không lạnh lùng như người Âu Châu. Bao nhiêu năm họ đã bị truyền thông tô vẽ nước Mỹ như một đất nước đang suy tàn, ẩm thực tồi tệ, một văn hoá nông cạn, và người Mỹ thô lỗ, đường đầy cảnh sát…

Quả thật quê hương thứ 2 của tôi tươi đẹp vô cùng. Muốn xem phải đi đường bộ trên những con đường xuyên bang để thấy biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và cả mạng sống của các công nhân bao nhiêu đời để ngày hôm nay chúng ta có những xa lộ cao tốc không ổ gà xe hơi chạy băng băng. Từ 13 tiểu bang ngày lập quốc tiền nhân đã Tây tiến đến bờ Thái Bình Dương, chinh phục đèo  cao, vực thẳm. 

Họ đã mua Louisiana của Pháp thời Napoleon Đệ Nhất. Thương vụ mua Louisiana là thương vụ mua lớn nhất của nước Mỹ năm 1803, thời đó Napoleon Bonaparte chiến tranh với Âu Châu triền miên, tài chính kiệt quệ. Tổng thống Mỹ Thomas Jefferson chỉ định mua thành phố cảng New Orleans nhưng Napoleon quyết định bán toàn bộ Louisiana với giá 15 triệu USD thời bấy giờ vì thấy vùng này quá xa khó phòng thủ và có thể mất vào tay kẻ thù là đế quốc Anh. Hoa Kỳ mua lại vùng đất này qua đó tăng gấp đôi lãnh thổ Hoa Kỳ thời đó. Louisiana trải rộng khoảng 830.000 dặm vuông, tương đương 2,14 triệu cây số vuông, giá chỉ 7 USD cho một cây số vuông. Mỹ trả 15 triệu đô la cho Louisiana, tương đương với hơn 400 triệu đô la theo giá trị hiện nay.

 Vào thời điểm đó, Louisiana cũng rộng lớn hơn nhiều so với tiểu bang Louisiana ngày nay, bao gồm những khu vực hiện thuộc 15 tiểu bang nằm giữa sông Mississippi và dãy Rocky.

Việc sở hữu vùng đất này là chìa khóa cho tham vọng bành trướng về phía Tây của Jefferson, điều ông tin là tương lai của Hoa Kỳ.

Người ủng hộ nhiệt thành nhất việc mở rộng biên giới của Mỹ là Tổng thống James K. Polk.

Washington sáp nhập Texas vào năm 1845 và vùng đất này trở thành một tiểu bang của Mỹ.

"Hoa Kỳ đã thể hiện sự quan tâm đến California, khi đó thuộc về Mexico và là một trong những khu vực kinh tế năng động nhất ở Mỹ, với các cảng nước sâu để giao thương với Châu Á."

Sau khi Mỹ giành chiến thắng trong cuộc chiến, hai quốc gia Mỹ và Mexico đã ký Hiệp ước Guadalupe Hidalgo năm 1848.

Washington cuối cùng đã trả 15 triệu đô la, tương đương khoảng 615 triệu đô la theo giá trị hiện nay, cho vùng đất được nhượng lại.

Vùng đất này bao gồm California, Nevada và Utah ngày nay, cũng như một phần của Arizona, Colorado, New Mexico và Wyoming.

Mua Alaska từ Nga (1867)

Vùng đất này có giá trị chiến lược to lớn, vì nó sẽ ngăn chặn Anh can thiệp vào Bắc Mỹ và sẽ giúp Mỹ tiếp cận các ngư trường giàu có ở Thái Bình Dương.

Về phía Nga, họ cho rằng mình đang loại bỏ một lãnh thổ ít giá trị, tốn kém chi phí quản lý và dễ bị tổn thương trước một cuộc tấn công tiềm tàng từ Vương quốc Anh - đối thủ chính của họ vào thời điểm đó.


Thỏa thuận mua lại 1.554.000 km2 đất từ Nga với giá 7,2 triệu đô la, tương đương khoảng 158 triệu đô la theo giá trị hiện nay. Năm 1959 nơi này mới trở thành một tiểu bang. Alaska có vàng và các mỏ dầu lớn. 

Thương vụ mua quần đảo Virgin thuộc Mỹ từ Đan Mạch (1917)

Danish West Indies, như tên gọi khi đó, là một nhóm đảo ở vùng Caribe, vốn đã được các nhà hoạch định chiến lược Mỹ thèm muốn từ giữa thế kỷ 19.

Một lần nữa, William H. Seward coi vùng lãnh thổ này là một phần then chốt trong kế hoạch bành trướng một cách hòa bình của mình.

Đến năm 1867, hai nước đạt được thỏa thuận ban đầu về việc bán hai hòn đảo với giá 7,5 triệu đô la, tương đương khoảng 164 triệu đô la theo giá trị hiện nay.

Đến năm 1917, hai bên đã đạt được thỏa thuận, theo đó các đảo vùng Caribe sẽ được bán cho Hoa Kỳ với giá 25 triệu đô la, tương đương với khoảng 630 triệu đô la theo giá trị hiện nay.

Con đường Tây tiến cùng Nam, Bắc tiến và Đông tiến mở rộng Hoa kỳ và nối Hoa Kỳ với hai bờ Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, làm Hoa Kỳ trở nên vĩ đại và hùng cường nhờ những Tổng Thống nhìn xa thấy rộng để công dân về sau hưởng được không biết bao nhiêu lợi ích ít quốc gia nào có. (Tài liệu mua đất:Nguồn BBC)


America the Beautiful

O beautiful for spacious skies,

For amber waves of grain,

For purple mountain majesties

Above the fruited plain!

America! America!

God shed His grace on thee,

And crown thy good with brotherhood

From sea to shining sea!

O beautiful for pilgrim feet

Whose stern impassioned stress,

A thoroughfare for freedom beat

Across the wilderness!

America! America!

God mend thine every flaw,

Confirm thy soul in self-control,

Thy liberty in law!

O beautiful for heroes proved

In liberating strife,

Who more than self their country love

And mercy more than life!

America! America!

May God thy gold refine

Till all success be nobleness,

And every gain is divine!

O beautiful for patriot dream

That sees beyond the years,

Thine alabaster cities gleam

Undimmed by human tears!

America! America!

God shed His grace on thee,

And crown thy good with brotherhood

From sea to shining sea!

Oh beautiful for halcyon skies

For amber waves of grain

For purple mountain majesties

Above the enameled plain!

America! America!

God shed His grace on thee,

Till souls wax fair as earth and air

And music-hearted sea!

O beautiful for pilgrim feet

Whose stern impassioned stress,

A thoroughfare for freedom beat

Across the wilderness!

America! America!

God shed His grace on thee,

Till paths be wrought through wilds of thought

By pilgrims foot and knee!

Oh beautiful for glory-tale

Of liberating strife,

When once and twice for man’s avail

Men lavished precious life!

America! America!

God shed His grace on thee,

Till selfish gain no longer strain

The banner of the free!

O beautiful for patriot dream

That sees beyond the years,

Thine alabaster cities gleam

Undimmed by human tears!

America! America!

God shed His grace on thee,

Till nobler men keep once again

Thy whiter jubilee!



Nước Mỹ Tươi Đẹp

Ôi vẻ đẹp của bầu trời khoáng đảng,

Của những cánh đồng lúa chín vàng óng ả,

Của những ngọn núi tím biếc uy nghi

Sừng sững trên những đồng bằng trĩu quả!

Nước Mỹ! Nước Mỹ!

Nguyện Chúa ban ân điển xuống trên người,

Và tô điểm điều thiện bằng tình huynh đệ

Từ biển này sang biển kia rạng ngời!

Ôi vẻ đẹp của bước chân người hành hương

Với ý chí kiên cường và lòng nhiệt huyết,

Đã mở lối tự do xuyên qua vùng hoang dã

Để dựng xây con đường cho hậu thế!

Nước Mỹ! Nước Mỹ!

Nguyện Chúa hàn gắn mọi khiếm khuyết,

Vun đắp tâm hồn biết tự chủ,

Và giữ gìn tự do trong khuôn khổ luật pháp!

Ôi vẻ đẹp của những người anh hùng

Đã chứng minh khí phách trong cuộc đấu tranh giải phóng,

Yêu đất nước hơn bản thân mình

Và trọng lòng nhân ái hơn cả mạng sống!

Nước Mỹ! Nước Mỹ!

Nguyện Chúa tinh luyện tâm hồn người

Để mọi thành công đều trở nên cao quý,

Và mọi thành quả đều mang vẻ đẹp thiêng liêng!

Ôi vẻ đẹp của giấc mơ yêu nước

Nhìn xa trông rộng vượt thời gian,

Nơi những thành phố trắng ngần tỏa sáng

Chẳng hề lu mờ bởi lệ sầu nhân thế!

Nước Mỹ! Nước Mỹ!

Nguyện Chúa ban ân điển xuống trên người,

Và tô điểm điều thiện bằng tình huynh đệ

Từ biển này sang biển kia rạng ngời!

Ôi vẻ đẹp của bầu trời thanh bình

Của những cánh đồng lúa chín vàng óng ả

Của những ngọn núi tím biếc uy nghi

Sừng sững trên những đồng bằng đẹp tựa tranh vẽ!

Nước Mỹ! Nước Mỹ!

Nguyện Chúa ban ân điển xuống trên người,

Để tâm hồn con người trở nên tươi đẹp như đất trời

Và như đại dương dạt dào khúc nhạc yêu thương!

Ôi vẻ đẹp của bước chân người hành hương

Với ý chí kiên cường và lòng nhiệt huyết,

Đã mở lối tự do xuyên qua vùng hoang dã

Để dựng xây con đường cho hậu thế!

Nước Mỹ! Nước Mỹ!

Nguyện Chúa ban ân điển xuống trên người,

Để những lối đi được khai mở giữa muôn vàn suy tư

Bởi bước chân và đầu gối của những người hành hương!

Ôi vẻ đẹp của những huyền thoại vinh quang

Về cuộc đấu tranh giành tự do,

Khi người ta sẵn sàng dâng hiến mạng sống quý giá

Vì lợi ích của nhân loại, chẳng tiếc chi thân mình!

Nước Mỹ! Nước Mỹ!

Nguyện Chúa ban ân điển xuống trên người,

Để lòng tham ích kỷ không còn làm vẩn đục

Lá cờ tự do kiêu hãnh tung bay!

Ôi vẻ đẹp của giấc mơ yêu nước

Nhìn xa trông rộng vượt thời gian,

Nơi những thành phố trắng ngần tỏa sáng

Chẳng hề lu mờ bởi lệ sầu nhân thế!

Nước Mỹ! Nước Mỹ!

Nguyện Chúa ban ân điển xuống trên người,

Để những con người cao quý lại cùng nhau

Tôn vinh ngày hội tự do tinh khôi rạng rỡ!

Tác giả: Katherine Lee Bates; (1859–1929) Lấy cảm hứng từ chuyến đi đến Pikes Peak vào năm 1893, Katherine Lee Bates đã viết bài thơ *America the Beautiful*. Bài thơ của bà lần đầu tiên được đăng vào ngày 4 tháng 7 năm 1895 trên *The Congregationalist*, một tờ tạp chí hàng tuần.

Có một khác biệt rất lớn giữa quê hương Việt 4,000 năm văn hiến và quê hương Hoa Kỳ non trẻ 250 tuổi đời. Sau cuộc chiến Nam Bắc 1860-1865 tướng Lee Miền Nam đầu hàng tướng Grant Miền Bắc tai Appomattox Court House ngày 9/4/1865 tướng Ulysses S. Grant đã đối xử với tướng Lee và quân đội Miền Nam bằng một thái độ vô cùng tôn trọng, hào hiệp, và một tinh thần hòa giải sâu sắc.
Tướng Grant ra lệnh cho quân sĩ Miền Bắc không được reo hò mừng chiến thắng hay có hành vi chế riểu quân đội Miền Nam trước mặt tướng Lee.

Ông tuyên bố rằng tuy Miền Nam là những kẻ nổi dậy, nhưng họ “cũng là anh em chúng ta”.

Thay vì bắt giam và xử tội Grant tuyên bố toàn thể tướng lãnh và quân đội Miền Nam được ân xá và về nhà an toàn. Các sĩ quan được giữ lại súng ngắn và gươm.

Grant cho quân đội Miền Nam đem ngựa và lừa trở về quê nhà phục vụ cấy cày tại các nông trại. Grant cũng ra lệnh cấp tốc phát 25,000 khẩu phần cứu đói cho quân Miền Nam.

Sau chiến tranh có ý kiến đưa tướng Lee ra toà xử tội phản quốc, Grant đã cực lực phản đối và bảo vệ những gì đã được ký kết tại Appomattox Court House. 

Gia đình tôi đã nhận đây là quê hương thứ hai.


Đất lành chim đậu là đây

Mấy mùa lá rụng, mấy cây lớn dày

Cố hương một giải xa khơi

Hồn quê vẫn đượm, lòng này vẫn thương

Nhớ thương gửi gió, gửi mây

Đường xa mấy dặm sơn khê mịt mờ

Nhớ Hàn giang cũ ngẩn ngơ

Tiên Sa một thuở mây mờ lối xưa


Từ nay quê cũ xa xôi

Đường xưa lối cũ tìm về làm chi

Còn ai chờ đợi bước ta đi

Còn ai thương nhớ khi ta quay đầu

Bạn xưa giờ ở nơi đâu

Người muôn năm cũ nhuốm màu thời gian

Người đi bỏ lại cung đàn

Một mình ta bước muôn vàn ngổn ngang. 


 Đến đây quyết ở lại đây, 

Dù cho bén rễ xanh cây chẳng về.


                                                      Phương Tuấn

Comments

Popular posts from this blog

October 28, 2023 Con chính là tất cả cuộc đời của mẹ.

June 30, 2024 60 Năm Sau, Phát Hiện Từ Một Gốc Cây Gây Chấn Động Nước Anh!

December 18, 2023 Hài Nhi Bêlem. Hang đá, máng cỏ đầu tiên mùa đông năm 1223.