October 23, 2023 Còn Mãi Yêu Thương

                                                        C Ò N   M Ã I    Y Ê U   T H Ư Ơ N G

                                                                                    

                                                                                                                            Phương Tuấn

 

          Tôi và những bạn bè của tôi hôm nay đã đi vào cuối thu hay đầu đông của cuộc đời, nhìn lại chúng ta định nghĩa cuộc đời là cái chi chi? Nó là “cuộc vui…”như nhiều bạn chúng ta đã nói, khi thường bảo bạn mình “đã bỏ cuộc vui”. Hay là “bể khổ”, như nhiều văn sĩ thường viết. Định nghĩa nào đúng đây? Hay nó vừa là bể khổ với màu xám của toàn bức tranh, thỉnh thoảng lóe lên vài chấm sáng của cuộc vui? Khổ nhiều hơn vui? Những đứa trẻ khi lọt lòng mẹ “khóc chào đời”. Sao lại chào đời bằng tiếng khóc chứ không phải tiếng cười? Ngày học y khoa, sinh lý học lý giải bé sơ sinh khóc để phổi nở ra để bé tiếp tục được thở. Nhưng lý giải theo tâm linh có phải vì bé sơ sinh biết mình đã bắt đầu đoạn trường khổ ải từ bây giờ và buồn cho thân phận mình?

Nếu rủi hay may có bé sơ sinh nào khi lọt lòng mẹ thay vì khóc chào đời lại cười vui, chắc bác sĩ hay cô mụ sẽ bỏ chạy vì hoảng sợ.

          Thường đứa bé lên năm hay sáu tuổi sẽ hiểu sự chết là cái gì. Ngày còn thật bé đâu khoản bảy tuổi có những đêm vừa nằm xuống chưa ngủ tôi thấy nhớ thương cha thương mẹ. Lạ quá hai người thân này ở gần tôi, đâu có xa? Nhớ căn nhà đầu tiên tôi sinh ra và ở đó nhiều năm là căn phố lầu bên dòng sông. Căn dưới là nơi mẹ bán tạp hoá. Căn lầu trên bốn thước trên mười là phòng ngủ chung của cha mẹ và năm anh chị em tôi. Cả nhà chia nhau phòng ngủ lớn đó không ngăn cách bởi màn che. Thế  cớ chi tôi nhớ cha thương mẹ? Vì cứ nghĩ ngày nào cha mẹ tôi “ra đi’, buồn biết mấy?

 

          Dân tộc Việt Nam có lẽ là một dân tộc giàu tình cảm. Không thấy mấy dân tộc hát ca dao như dân tộc ta.  Ngày xưa mẹ thường ru em:

“Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội

Người xa người tội quá người ơi

Chẳng thà không biết thì thôi

Biết rồi mỗi đứa mỗi nơi cũng buồn”

Đúng thế. Chẳng thà Thiên Chúa để tôi ở chốn không không, chẳng sinh tôi ra làm người. Sinh ra rồi có cha có mẹ, người thương ra đi biền biệt, biết bao nhiêu là buồn, mỗi lần nhớ mẹ nhớ cha. Dù thương cha thương mẹ cách mấy ngày hai người thương đó còn, khi họ ra đi, ngậm ngùi nhìn lại những kỷ niệm, vẫn nhớ thương tự bảo lòng ngày xa xưa đó ta đối xử với cha mẹ vẫn không đủ thương. Làm sao để nghe lại tiếng nói giọng cười của cha hiền mẹ thảo dù chỉ một giờ, một phút… Người đi đi mãi không về.

 

          Và câu ca dao:

“Cha mẹ thương con Biển Hồ lai láng

Con thương cha mẹ tính tháng tính ngày…”

Ngày hôm nay đa số chúng ta đã thành ông bà nội ngoại, nhìn lại câu ca dao này để thấm thía lòng cha mẹ khi xưa.

“Ba năm bú mớm con thơ

Kể công cha mẹ biết cơ ngần nào

Dạy rằng chín chữ cù lao

Bể sâu khôn ví, trời cao khôn bì”

Tất cả anh chị em tôi sinh ra trước tôi đều bú mẹ ít nhất một hai năm. Riêng tôi chỉ bú mẹ sáu tháng rồi mẹ đau, tôi không được bú nữa. Sáu tháng cũng đủ để những ngày còn thơ đó cảm được vị ngọt bùi của dòng sữa mẹ. Sau này chẳng bao giờ nghe mẹ kể công đã nuôi anh chị em tôi khôn lớn bằng sữa mẹ. Mẹ xem đó như là trách nhiệm, không người mẹ nào trên thế gian có chi để than phiền, có lẽ còn cho đó là niềm hãnh diện được nuôi con bằng chính sửa của thân xác mình. Ôi những người mẹ Việt Nam!!! Thương mẹ biết mấy.

Cảm tạ Thiên Chúa cho tôi trí nhớ khá tốt nên ngày lên bốn lên năm tôi đã có những kỷ niệm thật dễ thương về mẹ. Hàng hiên căn phố lầu là nơi mẹ bán tạp hoá. Đủ cả, ai mua chi mẹ cũng có. Hàng hiên nhỏ thôi, hai thước rưỡi trên bốn. Ở đó mẹ có khoai lang khô, hủ tiếu khô, gạo, các loại đậu… nước mắm tỉn, cả giấy bút học trò, nhang đèn, và ngay cả những hộp diêm quẹt nhỏ nhắn tôi thích. Ôi thôi đủ thứ lỉnh kỉnh cần dùng trong nhà. Mẹ ngồi trên một chiếc chõng tre nhỏ, một bên là cái nôi em tôi. Quê tôi từ tháng chín tháng mười trời trở lạnh, những ngày đó mẹ mặc áo len xanh dài tay, một khăn trùm đầu. Ngày xưa hầu như nhà nào cũng không có cửa kiếng che gió, gió mùa đông cứ thế tràn vào. Mẹ có một vật bất khả ly thân, đó là chai dầu gió mẹ luôn bỏ trong túi. Thỉnh thoảng mẹ lại thoa lên mũi.

“Dầu chi đó mẹ?

Dầu Nhị Thiên Đường đó con”.

Ngày hôm nay ngồi viết những dòng này bỗng như vẫn còn thấy mùi dầu mẹ xức ngày nào. Đó có phải là hơi hướng còn sót lại của mẹ không?  Chai dầu trị bá bệnh. Nhớ ngày nào tôi nhức đầu sổ mũi, mẹ thoa dầu hai bên thái dương. Ngày nào tôi đau bụng, mẹ kéo áo tôi lên, xoa dầu xung quanh rốn. Ngày nay không còn thấy dầu gió Nhị Thiên Đường, chai dầu đã đi theo mẹ tôi bao nhiêu năm tháng.

Không hiểu sao tôi thương những ngày mùa đông tháng giá gió lộng quê tôi. Có phải vì những ngày đó tôi gần gũi mẹ tôi hơn không? Ngày đó khi có những cơn gió lạnh, hay những cơn bão thổi tới từ Biển Đông, những cơn mưa mùa đông quê tôi làm gãy cây lá cành trên các đường phố, tôi thường nép vào lòng mẹ, thấy hơi ấm của bà và mùi dầu gió Nhị Thiên Đường, và để cảm thấy mình được an ủi che chở. 

Sau này đọc cuốn “ Sans famille” của Hector Malot, cuốn sách mê thích tuổi thơ tôi. Ông có viết thêm cuốn “En Famille”, nhưng không hay bằng cuốn trên. Xin ghi lại đây một vài dòng khi Rémi tả về  mẹ : “…lorsque je pleurais, il y avait une femme qui me serrait si doucement dans ses bras, en me bercant, que mes larmes s’arrêtaient de couler…Jamais je ne me couchais dans mon lit, sans qu’une femme vint m’embrasser, et, quand le vent de décembre collait la neige contre les vitres blanchies, elle me prenait les pieds entre ses deux mains et elle restait là à me les réchauffer en me chantant une chanson, don’t je retrouve encore dans ma mémoire l’air, et quelques paroles. Quand je gardais notre vache le long des chemins herbus ou dans les brandes, et que j’étais surprise par une pluie d'orage, elle accourait au-devant de moi et me forçait à m'abriter sous son jupon de laine relevé qu'elle me ramenait sur la tête et sur les épaules…”. (Khi tôi khóc, có một người đàn bà ôm nhẹ tôi vào hai cánh tay của bà, ru tôi, làm nước mắt tôi ngừng chảy…Chẳng bao giờ tôi ngủ trên giường bà không đến ôm tôi, và, khi ngọn gió tháng chạp gắn những bông tuyết làm trắng các cánh cửa kiếng, bà cầm hai chân tôi trong đôi bàn tay của bà, bà đứng đó xoa cho chúng ấm và hát cho tôi nghe một bài hát, cho đến ngày hôm nay tôi vẫn còn nhớ giai điệu và một vài lời. Khi tôi giử con bò của gia đình trên những con đường đầy cỏ dại, hay vùng đất gai bụi, bỗng một cơn mưa giông ập đến, bà vội chạy đến bên tôi, vén váy len lên trùm đầu và vai tôi, và bắt tôi núp dưới đó.)

Vì mẹ của Rémi không phải là mẹ ruột, nên khi ông chồng của mẹ là dượng ghẻ Rémi mất việc sau tai nạn lao động, gia đình Rémi rơi vào túng quẩn, ông bố dượng bán Rémi cho gánh xiệc của ông già Vitalis. Rémi tả lại cảnh ngày đi theo gánh xiệc, ngoái cổ nhìn lại làng xưa tìm xem có mẹ đến cứu mình không? Ông già Vitalis, nắm tay Rémi và kéo cậu đi theo. Chân bước đi, mặt còn ngoảnh lại, nhìn căn nhà tranh có mẹ Barberin thương mình như con ruột. Con đường lên dốc dần dần, và lần ngoảnh mặt lại này Rémi thấy chiếc mũ trùm đầu của mẹ từ xa:

“ La distance était telle que je ne distinguais que la blancheur de la coiffe, qui comme un papillon printanier aux couleurs pâles voltigeait entre les branches.

Mais il y a des moments où le cœur voit mieux et plus loin que les yeux les plus perçants: je reconnus mère Barberin; je sentais que c’était elle…Elle me cherchait.

Je me penchais en avant, et de toutes mes forces, je me mis à crier.

Maman, maman!

Mais ma voix ne pouvait ni descendre, ni dominer le murmure du ruisseau, elle se perdit dans l’air.”

(khoảng cách khá xa để tôi chỉ có thể nhận diện được màu trắng của khăn trùm đầu, giống như cánh bướm mùa xuân với những màu sắc nhạt đang bay lượn trong lá cành.

Nhưng có những khoảnh khắc con tim thấy rõ và thấy xa hơn những con mắt sắc bén; tôi biết đó là mẹ Barberin; tôi cảm nghiệm đó là mẹ…Mẹ đang kiếm tôi.

Tôi chồm người tới trước, và hết sức lực tôi hét to:

Mẹ ơi, mẹ ơi.

Nhưng tiếng hét của tôi không tới được, không thắng được tiếng suối róc rách, và tan trong không gian)

Đó là lòng mẹ thương con, và con nhớ mẹ được tả trong “Sans Famille”.

Và đó Rémi tả người mẹ nuôi của Rémi, không phải mẹ ruột. Hector Malot viết hay quá. Những dòng chữ này gợi lên hình ảnh người mẹ và lòng thương con ít có ngòi bút nào viết đẹp hơn.

Cuốn sách “Sans Famille”, đã được các hãng đóng thành phim truyện vài lần, nhưng không diễn tả được hết cái hay và tâm tình của Hector Malot khi ông viết tập truyện này cho tuổi thơ. Ông viết không nhiều, nhưng cuốn sách đã đưa ông lên thành ngòi bút yêu thích của thế hệ trẻ trước tôi và thế hệ tôi.

 

          Và ai còn nhớ nhà văn Thanh Tịnh với hình ảnh dễ thương mẹ ông dẫn ông đến trường ngày đầu tiên trong “Tôi đi học”…

“Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc., lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường…

Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đảng.

Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm cầm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã đi quen, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học”.

Hình ảnh dễ thương của người mẹ một lần nữa xuất hiện trên văn đàn. Ai không nhớ không thương hình ảnh mẹ hiền thay cha dẫn con đến trường giao cho thầy ngày đầu tiên, và ghi lại khoảnh khắc thiêng liêng đó như những kỷ niệm đẹp nhất đầu đời. Quê hương Thanh Tịnh ở Gia Lạc, Huế. Đọc đoạn văn trên tôi đã tưởng như thấy hình ảnh một người đàn bà Huế quê ở một làng nhỏ đâu đó ven sông Hương, mặc áo dài đi guốc mộc dẫn theo một cậu bé ăn mặc tươm tất nhưng đi chân đất trên đường quê. Có thể cha của Thanh Tịnh đã mất trước ngày ông đi học. Ngày xa xưa đó cũng như bây giờ, nhập học vào khoảng giữa tháng 9, trời đã vào thu, có mây trắng và trời đã se lạnh. Mùa này Huế đã vào mùa bão, kéo dài đến tháng chạp gần tết.

Đọc đoạn văn đó tôi lại nhớ đến thân tôi không có ai dẫn đến trường ngày nhập học. Ba mẹ có nuôi ông chú họ trong nhà và ông dạy tôi những ngày đầu đời với cuốn Quốc văn giáo khoa thư. Tôi sợ ông hơn sợ cọp, vì không thuộc bài ông khỏ đầu đau lắm. Càng bị khỏ đầu tôi càng tối dạ, càng không thuộc bài, cái vòng luẩn quẩn, lại bị khỏ đầu nữa. Trường hợp bị khỏ đầu chỉ biết chạy lại mét mẹ hay méc vú già để được an ủi. Mới đó đã bao nhiêu năm. Sau này ông vào Liên Khu 5, tập kết ra Bắc, tôi không biết ông có trở về miền Nam sau tháng 4 năm 1975 không. Đến nay cũng chẳng ghét gì ông, vì nghĩ ngày đó các thầy không được qua một lớp sư phạm dạy trẻ. Nếu gặp lại sẽ cười với ông và nói:”Chú ơi, chú không ngờ thằng cháu ngày xưa tối dạ như vậy, nhưng sau này học thành tài, ra trường thành bác sĩ y khoa chú hí !”

 

          Một thời gian sau đến năm xảy ra nạn đói kinh hoàng ở Việt Nam, khi người Nhật lấy lúa chạy máy phát điện thay cho than, và bắt dân Việt trồng đay thay lúa. Những ngày đó mẹ dặn tôi phải quí hạt cơm mình ăn, phải vét sạch chén, đừng để sót lại hạt nào. Mẹ nói hạt cơm là hạt ngọc trời. Ngày hôm nay sống trên đất nước chảy sữa và mật ong này tôi vẫn nhắc lại lời mẹ dặn cho các con cháu mình.

Mẹ tôi ít học, hay nói hẳn ra là chưa bao giờ được đến trường đi học, vì đó là ý ông ngoại tôi và xu hướng thời đầu thế kỷ hai mươi chỉ nghĩ người con gái hay đàn bà chỉ nên biết việc trong gia đình thay vì học cao ra tiếp xúc ngoài xã hội. Tuy vậy mẹ tôi biết khá nhiều. Mẹ chẳng bao giờ cho tôi tiền để ăn hàng quà khi đi học. Mẹ bảo không tốt, nhưng không giảng cho tôi nghe tại sao không tốt. Tuy nhiên sau khi lớn lên vào trung học, mẹ luôn cho tiền mua sách đọc

 

          Tôi cũng có một bà mẹ vợ thật dễ thương. Bà không nói xấu bất cứ ai qua các câu chuyện bà nói với vợ chồng tôi. Khi nói chuyện với các con tôi, bà luôn dặn chúng cầu nguyện cho ông bà nội là ba mẹ tôi. Có cái gì ngon bà cũng để dành cho tôi. Tôi nhớ rõ những ngày bà sống với gia đình chúng tôi tại Đà Lạt, những hôm tôi phải đi làm việc sớm, bà ghé tiệm mì Cẩm Đô mua tô mì hoành thánh bỏ trong cà mèn đem về cho tôi ăn sáng. Ngồi hôm nay viết lại những dòng này thương bà biết mấy. Ngày qua Hoa Kỳ, bà ở với gia đình tôi một thời gian, nhớ những buổi sáng tôi dắt bà đi bộ, giúp bà sụt cân, vì ngày đó bà đã bị tiểu đường. Đến khi tôi di dời lên tiểu bang miền Bắc làm bác sĩ thường trú, bà không đi theo vì sợ lạnh. Bà về ở với người chị gái của vợ tôi, sau này mất trong nursing home. Nhiều lúc tôi có cảm tưởng bà thương tôi hơn các con ruột của bà. Rất tiếc những ngày bà sống với gia đình tôi quá ngắn ngủi. Hôm nay ngồi viết những dòng này để nói với bà đang ở một nơi nào đó trên Thiên Đàng:” Qua bao nhiêu năm tháng từ ngày mạ ra đi con vẫn thương mạ và cầu nguyện cho mạ, con biết lòng mạ thương con cái và những ai nghèo khổ khi mạ gặp trong đường đời. Nay mạ đã ở nơi an lành cùng Thiên Chúa, còn gì vui sướng bằng?

 

          Hôm nay hai người mẹ đã ra đi từ rất lâu. Nhưng tôi biết trong các bè bạn vẫn còn những người mẹ thọ trên trăm tuổi. Tôi muốn nói với các bạn:

“Bạn biết không, một bông hồng đỏ cài lên áo bạn đó. Hãy chạy về ôm hôn mẹ đi, chẳng còn bao lâu nữa mẹ của bạn sẽ ra đi. Đừng chần chờ. Nếu không về được, gọi thăm mẹ mỗi ngày, và hãy nói lời yêu thương với mẹ khi còn có thể…Thiên Chúa đã cho bạn một ơn phước quá lớn vì ở tuổi bạn vẫn còn mẹ để nói với mẹ những gì ngày xưa chưa được nói”.

Mẹ chỉ ru con những năm tháng con vào đời. Trong chiến tranh Việt Nam không biết bao nhiêu mẹ đã ru con hai lần, lần đầu đời, và lần con đi vào vùng chinh chiến lửa đạn rồi đi vào cõi thiên thu. Vào năm 1972, mùa hè đỏ lửa, tôi đi dự đám tang đứa cháu trai bên vợ, hy sinh trong chiến trận. Tại nghĩa trang quân đội Biên Hoà, người mẹ ôm quan tài đứa con trai thân yêu:

“Cường ơi, Cường ơi, thiên thần mũ đỏ của mẹ, sao con nỡ bỏ mẹ ra đi. Thiên thần mũ đỏ ơi là thiên thần mũ đỏ!!! Sao con nỡ bỏ mẹ ra đi quá sớm, con ơi?…”

Và những người mẹ của năm vị tướng, đã ru con lần thứ hai khi các các vị này ra đi, đó là tướng Phạm văn Phú, Trần văn Hai, Lê văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ …và còn ai nữa. Có nỗi đau nào bằng khi mẹ ru con lần hai vào giấc thiên thu, về vùng trời vĩnh cữu…Có lời ru con nào não nề đứt ruột hơn không?

Viết đến đây lại không quên trong đạo giáo của tôi có Đức Mẹ Sầu Bi, ru con lần cuối khi con mình trút hơi thở cuối cùng trên thập giá. Mẹ thấm nỗi nhục, nỗi đau ngút trời của đứa con Thiên Chúa chết cho tội lỗi nhân loại. Nỗi đau của Mẹ bút mực nào tả cho xiết? “Không có tình yêu nào cao quý bằng tình yêu của kẻ hy sinh mạng sống mình cho người mình yêu”.

Ngoài Đức Mẹ Sầu Bi, đạo giáo tôi còn có Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Chính Đức Mẹ này đã theo dõi và cứu giúp, cũng như che chở gia đình tôi không biết bao nhiêu lần trên đường vượt biên. Ngày hôm nay viết lại để nói lời cảm ơn với người Mẹ gia đình chúng tôi thương mến và cầu nguyện mỗi ngày.

 

          Và đây, những người cha trong đó có cha tôi, những người cha của đầu thế kỷ thứ hai mươi. Ngày đó tôi đã nghe mẹ hát ru các em tôi:

“Còn cha gót đỏ như son

Đến khi cha chết gót con đen sì”

Tôi may mắn như vậy mà không biết, mãi đến một ngày gọi thăm nhân ngày giỗ một bạn hiền, anh mất cách đây sáu năm. Vợ người bạn cho biết ngày xưa chị mất mẹ, cha tục huyền, chị ở với mẹ ghẻ. Một hôm tôi gửi bài viết ”Nhớ tiếng mẹ ru” cho chị xem, chị bảo:

“Anh sướng quá, được ở với mẹ ruột của mình, tôi không được diễm phúc đó, vì khi người cha cưới vợ khác, tình cha con không còn đậm đà, ngoài việc người con mất hẳn tình mẫu tử.” Cuộc đời đôi khi ta có phúc nhưng quên bẵng là mình đang sống trong hạnh phúc. Ngày hôm nay viết những dòng chữ này để nhớ cả một trời kỷ niệm những ngày bé thơ bên mẹ bên cha. Tôi đã viết về cha trong bài:”Một bông hồng nào cho cha”, nay chỉ viết thêm một vài dòng về người cha tôi thương mến. Từ ngày ông  ra đi, không có ngày nào tôi không cầu nguyện cho ông. Cha chỉ dạy tôi bằng gương sáng ông sống, không bao giờ dùng roi vọt. Ông cũng là hiện thân của nhiều người cha sống trong đầu thế kỷ hai mươi, sống đạo làm người, “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”.  Ngày hôm nay viết những lời này tôi không còn có ông để nói lời yêu thương. Tiếc nuối ngày xưa sao mình kiệm lời. Có phải đó là lối sống của chúng ta ngày xưa không? Trong cuộc sống gia đình với mẹ tôi, cũng có lúc cha mẹ không đồng ý nhau, nhưng chẳng bao giờ nghe cha hay mẹ to tiếng với nhau. Ba và mẹ sống bên nhau suốt sáu mươi năm, cha chẳng có đau bệnh gì như cao áp huyết, tiểu đường…nhưng cuối đời buồn phiền các con bỏ nước ra đi, buồn phiền cuộc sống nơi quê nhà, suy sụp tinh thần, không gượng nổi, hệ miễn nhiễm có thể vì thế suy yếu, ông mắc bệnh ung thư máu và bỏ mẹ ra đi.

Lòng cha rất rộng. Ông không những muốn con cái ông được học hành, nhưng cả các cháu của ông. Ông bà nội tôi có năm người con gái, cha tôi là con trai út. Ông nuôi trong nhà năm người cháu gọi ông là cậu ruột và có người sau này tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh. Nhớ những ngày còn hàn vi, sống với đồng lương tư chức khi ông làm việc cho một hãng tư của người Pháp. Cái thuở ngày xưa các nhà văn đã viết”sáng vác ô đi, tối vác về”. Gia đình sống yên vui đầy đủ cho đến ngày mẹ mở tiệm tạp hoá, cảnh nhà khá hơn.

 Rồi ngày 19/12/1946 cuộc chiến Việt Pháp bùng nổ. Gia đình di tản từ nhà ông ngoại từ làng Mỹ Khê, bên kia sông Hàn. Chạy bộ qua đêm. Chú em tôi được ngồi trên cái thúng, thúng bên kia là đồ đạc và được người gánh theo, thay vì chạy bộ như tôi. Trời giửa tháng chạp, mưa bụi, cơn lạnh len lỏi vào tận xương tuỷ. Ngày đó đứa em gái út của tôi mới sinh được bốn tháng, được người vú ẳm. Một tay vú xách theo một cái trả đầy than hồng để sưởi ấm em tôi. Đến gần sáng mới đến bến đò Quán Cái gần Ngủ Hành Sơn và qua sông sau khi đợi thuyền khoản một tiếng đồng hồ. Tội nghiệp con chó nhà ông ngoại tôi, cũng chạy theo đoàn người di tản, và bị bỏ lại bên bờ sông, buồn, đứng khóc bơ vơ. Ngày đó tôi đã bắt đầu thương số phận của các chú chó vô chủ, không nơi nương tựa…Con người đã khổ vì chiến tranh, con vật còn khổ hơn, biết nói sao bây giờ?  

Tiếp tục chạy bộ theo quốc lộ 1, trên mười cây số nữa để đến huyện Điện Bàn, nhà ông bà nội tôi. Nhà ông bà nội cách quốc lộ trên một trăm thước, đó là căn nhà ngói ba gian, cha tôi xây cho ông bà nội khi cha gần bốn mươi tuổi. Trong làng ngày đó nghèo, ít có ai có căn nhà khang trang như vậy. Ngày tôi có trí khôn, không còn nghe nói đến ông nội, sau này biết ông là thầy thuốc trong làng, mất ngày tôi còn thật nhỏ. Bà nội ngày đó trên sáu mươi tuổi, còn tráng kiện, làm việc nhà, coi sóc mọi thứ. Vừa bước vào nhà, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi, phía bên trái căn nhà là một quan tài sơn son thiếp vàng để trên hai con ngựa gỗ. Quan tài này làm tôi sợ, nhưng bà nội tôi thì không. Sáng nào cũng thấy bà lấy chổi lông quét nắp quan tài dù chẳng thấy bụi đâu. Ngày đó trong dân gian có câu:

“Sống cái nhà, chết cái mồ”.

Bà nội khen cha tôi có hiếu lo đủ hậu sự cho bà từ ngày bà còn sống. Ngày hôm nay chữ “chết” là taboo, chớ nói, chớ đụng đến nó. Làm như đụng đến nó, nó sẽ tới liền, mang đại hoạ cho ta.

Cha tôi lo cho bà nội tôi như thế đó, lo nhà cho bà ở, lo hậu sự khi bà vẫn còn sống. Sau này nghe ba tôi nói mỗi tháng vẫn gữi tiền về cho bà tiêu.

 

          Đến đây xin nhắc đến tất cả những bạn bè anh em tôi, nếu ai trong chúng ta còn cha, điều này chắc hiếm lắm, nhưng không có nghĩa là không có. Thì xin tất cả những ai may mắn đó, chạy về bên cha ở một nơi nào đó trên trái đất này để ôm cha vào vòng tay mình, nói với cha những lời thân yêu từ sâu thẳm lòng mình rằng:”Cha có biết con thương và biết ơn cha nhiều lắm không?” Hãy nhanh lên, vì thời gian không còn nhiều, đừng bỏ lỡ cơ hội cuối cùng, vì ngày mai sẽ chẳng còn kịp, ta sẽ chẳng còn được ôm cha để nói lời yêu thương.

 

          Và riêng tôi cũng tin là mình có một người Cha trên trời, là đấng thương yêu nhân loại với một tình yêu vô điều kiện (unconditional love). Ngài đổ nắng và đổ mưa trên người lành và kẻ dữ. Đây là người Cha tôi hằng thương mến, tin yêu, chạy đến Ngài sáng và tối, trong yên vui cũng như trong khổ nạn. Ngài đối với tôi không phải chỉ là Cha, nhưng Ngài là ông Hoàng trên các ông hoàng, Chúa tên các chúa. Và riêng đối với tôi, Ngài là người bạn vô cùng thân thiết, tôi có thể tâm sự với Ngài bất cứ khi nào. Không có người bạn vô cùng thân thương này, tôi nghĩ rằng tôi đã quỵ trên đường đời với muôn ngàn cạm bẫy và chông gai. Những dòng này tôi viết cho riêng tôi, khi nhìn lại quãng đời gian nan tôi và gia đình đã đi qua. Nhưng tôi cũng viết cho các bạn thân mến của tôi để nhắc nhở rằng đừng bao giờ quên chúng ta có một người Cha và một người bạn luôn mở rộng lòng chờ đón. Và khi Ngài đến gõ cửa nhà mình, nhớ mở cửa và đón Ngài vào. Mỗi sáng tôi vẫn thường cầu nguyện:”Lạy Cha, Cha không cần gõ cửa nhà con. Nhà con luôn rộng mở để Cha vào. Và khi Cha vào, xin Cha ở lại mãi với con, đừng bao giờ để con xa Cha. Vì con biết con vô cùng yếu đuối có thể xa Cha.  Xin Cha ở lại với con để dạy cho con biết Yêu Thương tất cả những ai đến với con, dù họ chỉ đến với con chỉ một lần trong đời, dù họ có thương con hay ghét con. Con cũng xin Chúa thương gia đình của họ, những người còn sống hay những kẻ đã qua đời. Và con cũng xin Cha dạy cho con biết Tha Thứ tất cả những ai làm phiền lòng con... xin Cha cho con đi đến cuối con đường luôn trong Tin Yêu và Hy Vọng.”

          Tôi thường nghe bạn bè nói:”Chúa thử thách... ” hay ”Chúa trao thánh giá”. Sự thật có như vậy không? Bản tính Thiên Chúa là Toàn Năng và Toàn Thiện. Nếu toàn năng Thiên Chúa biết tất cả mọi sự. Quá khứ, hiện tại hay tương lai đối với Ngài chỉ là một. Vậy Ngài thử thách chúng ta làm gì?

 Vì toàn thiện, trong Thiên Chúa không có sự dữ.

Tai ương, bệnh tật đa số là do lỗi tại ta không biết vâng lời Ngài, sống cẩu thả, không đúng chuẩn mực đưa đến bệnh tật.

 Một loại bệnh tật khác, do tuổi tác trong quá trình huỷ diệt của cơ thể sau bao nhiêu năm. Như chiếc xe chạy lâu năm hao mòn theo thời gian. Loại bệnh này không phải lỗi của ai.

Và loại bệnh tật thứ ba do sự ác của kẻ khác, ta gặp phải, như trận dịch Covid này.

Chúng ta thường đổ lỗi cho Thiên Chúa đã trao thánh giá cho ta. Đa số những quyết định sai lầm do không vâng lời. Như đến ngã ba đường chúng ta phân vân không biết đi đường nào. Chúng ta cầu nguyện và nghe Chúa bảo:”Cứ đường thẳng con đi, con sẽ gặp đồng xanh suối nước trong. Chớ rẻ trái hay phải con sẽ gặp tai họa”. Nhưng đến ngã ba đường ta có ảo tưởng phía trái hay phải sẽ tươi đẹp hơn và ta đi trái hay rẽ phải, tai ương ập đến.

Có những tai ương do lỗi không vâng lời có thể sửa được dễ dàng, có những tai ương cần nhiều năm tháng để sửa và có những tai ương không sửa được cho đến hết đời người. Có những tai ương do lòng kiêu ngạo, như trường hợp Hitler đi đến cuối đời phải tự tử sau khi gieo tai hoạ cho nhân loại trong thế chiến II. Hitler không học được những gì Thiên Chúa dạy:”Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm tốn trong lòng...”

 

          Nay nói về tình bạn, khi chúng ta còn có thể yêu thương được...Viết lại những dòng này, lại nhớ ngày xưa cha tôi hay ngâm bài thơ,” Từ giả bạn bè lần cuối cùng” của cụ Phan Bội Châu khi bị Pháp giam lỏng tại An Cựu, Huế.

 

“Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ,

Thiên hạ hà nhân bất thức quân...

Những ước anh em đầy bốn biển,

Nào ngờ trăng gió nhốt ba gian...

Chữ đá vàng in mấy đoạn tâm can...

Lấy gì đáp khúc đàn tri kỷ...

Nga nga hồ, chí tại cao sơn

Dương dương hồ, chí tại lưu thuỷ!

Đàn Bá Nha mấy kẻ thưởng âm...”

 

Đúng vậy đàn Bá Nha chỉ có một kẻ thưởng âm, đó là Tử Kỳ. Nhớ thầy Việt văn kể cho lớp tôi câu chuyện đôi tri kỷ Bá Nha, Tử Kỳ khá dài, lâm ly..., chỉ xin tóm tắt. Thời Chiến Quốc Xuân Thu, Bá Nha quê nước Sở, nhưng làm quan nước Tấn. Một hôm đi công tác về xứ Sở của mình trên đường về nước Tấn, đến sông Hán Dương, thuyền ông dừng lại. Đêm trăng thanh gió mát ông đem Dao cầm khảy khúc đàn. Đang lúc cao hứng đàn đứt dây. Ông giật mình, biết có người  nghe lén tiếng đàn mình. Vội bảo gia nhân lên bờ tìm kiếm và gặp Tử Kỳ. Qua câu chuyện thấy Tử Kỳ hiểu tâm tình mình qua tiếng đàn, bằng kết nghĩa anh em. Khi đó Tử Kỳ chỉ là gã tiều phu, mang nhiều mộng lớn, nhưng chưa thực hiện được vì còn phụng dưỡng cha mẹ già. Bá Nha hẹn gặp lại Tử Kỳ cùng giờ ngày này năm sau. Năm sau trở lại, Tử Kỳ không còn. Bá Nha gặp Chung lảo là cha của Tử Kỳ , người dẫn ông ra ngôi mộ Tử Kỳ, nơi chân núi Mã Yên, bên bờ sông Hán Dương. Tại đây Bá Nha thắp hương khấn vái và đàn cho vong linh Tử Kỳ khúc ly biệt, xong đập Dao cầm vào đá tan vỡ.

Chung lão sợ hãi hỏi rằng:

“Sao đại quan huỷ cây đàn quý này?”

“Dao cầm đập nát đau lòng phượng

Đàn thiếu Tử Kỳ đàn với ai?

Gió xuân bốn biển bao bè bạn

Nhưng kiếm tri âm đâu dễ tìm”.

 

          Một tình bạn tri kỷ nửa đẹp không kém, đôi bạn Kinh Kha , Cao Tiệm Ly. Kinh Kha người nước Vệ, nhưng không được trọng dụng. Ông vào nước Yên và làm thân với Cao Tiệm Ly. Cao Tiệm Ly là cây sáo thần. Kinh Kha là người cảm thông và hiểu được nỗi lòng của ông qua tiếng sáo. Từ đó hai người thành tri kỷ.

Bên bờ sông Dịch có thái tử Yên và Cao Tiệm Ly tiễn đưa. Cao Tiệm Ly cất tiếng sáo bi hùng tiễn tráng sĩ lên đường. Cảm khái tình người tri kỷ, Kinh Kha tức cảnh, tức tình tặng Cao Tiệm Ly và thái tử Đan hai câu thơ:

“Phong tiêu tiêu hề, Dịch thuỷ hàn

Tráng sĩ bất khứ hề, bất phục hoàn”

(Gió thổi hiu hiu, nước sông Dịch lạnh

Tráng sĩ một đi, chẳng trở về.)

Và quả thật như lời tiên tri của tráng sĩ, tráng sĩ đi không về. Cao Tiệm Ly chờ mãi người bạn tri âm, biết bạn mình không bao giờ về nữa, đập sáo vì biết chẳng còn ai có thể nghe sáo hiểu lòng mình.

Đây là câu chuyện với lời kết do thầy tôi kể, nhưng sau này đọc thêm sử sách nghe nói Cao Tiệm Ly không đập sáo. Chẳng biết đâu là sự thật.


          Một người bạn ngày học tiểu học, Trần Đình Trị. Ngày đó năm lớp nhất tiểu học, Trị ngồi cùng bàn, bên tay trái. Gia đình tôi vừa hồi cư về thành phố được một năm, nhà còn nghèo lắm, mẹ đau mới mạnh, cha chưa có việc làm. Tôi ăn mặc ở nhà sao, đi học cũng vậy, bộ pijama trên người, đi chân đất đến trường. Trị thì khác, cha Trị là chủ sở hỏa xa Đà Nẵng có nhà ở của sở hỏa xa. Trị đi học ăn mặc tươm tất. Áo chemise ngắn tay, quần short, áo bỏ trong quần và đi sandal. Ngày đó như vậy oai ra phết, không mấy học trò trong lớp được như Trị.

Một hôm đến thăm Trị, Trị khoe đoàn xe lửa bằng carton Trị làm, cắt từ cuốn album của sở hỏa xa cha Trị đem về. Đoàn xe lửa carton này gồm một đầu tàu và bốn toa gòn. Xinh thật xinh.

“Đẹp quá, Trị ơi, trông thật thích”

“Trị cho Tùng đó!”

“Ủa, của Trị mà, Trị mới làm xong, cho mình sao được. Bộ Trị không thích nó sao?”

“Thích chớ, nhưng Tùng thích, Trị cho Tùng đó”

“Trị nói thật chớ?”

“Thật mà, Tùng đem về nhà chơi đi”

Thế là mình hí hửng đem đoàn tàu về khoe mẹ.

Sau này lớn lên mình mới thấy thương người bạn nhỏ, biết hy sinh cho người mình thương. Khi đó hai đứa chỉ mới 11 tuổi. Có điều lạ là những đứa bạn thân, như với Quốc, hay Trị chỉ gọi nhau bằng tên, không bao giờ gọi mi tau với nhau. Trị học trung học Yersin, xong tú tài toàn bị động viên vào Thủ Đức, đi biệt động quân, bị thương với vết thẹo để lại bên má phải. Một tối năm 1968, Trị đến thăm tôi ở nhà đường Phan Châu Trinh. Đó là lần chót gặp Trị. Trị mất tích, chẳng biết bây giờ người bạn xưa ở đâu. Nhớ Trị lại nhớ Trị có cô em gái rất xinh Trần Thị Bạch Yến, hoa khôi trường Gia Long, có lần đóng vai Trưng Trắc, cưỡi voi diễu hành ở Saigon ngày quốc khánh. Tôi ít gặp ba của Trị, nhưng mẹ Trị, người Huế, rất hiền, ăn nói nhỏ nhẻ, dễ thương...Mới đó mà bao nhiêu năm. Tháng ngày trôi không còn gặp lại bạn bè xưa.

 

          Một người bạn thân thời trung học: Vương Ngọc Lâm. Ít có ai có bạn ngồi cùng pupitre ba năm liền, các lớp Seconde, Première, Sciences Expérimentales. Ba năm học, nhưng cũng là ba năm vui chơi. Đủ chuyện trên trời, dưới đất, pen pals (bạn thơ) kể cho nhau nghe... Tội nghiệp Lâm hay chiều bạn. Đây không biết là tốt hay xấu, khi tôi nói gì Lâm cũng ừ. Nhớ ngày xong tú tài 1, Lâm và tôi lấy máy bay lên trường Yersin Đà Lạt. Đây là trường được chỉ định cho hai đứa học tiếp năm chót trung học. Đến trường lúc 4 giờ chiều, trời Đà Lạt  mưa bụi và lạnh. Hai đứa vừa ở quê miền Trung nắng ấm, cảm nhận ngay sự khác lạ.

“Lâm ơi, xứ gì mưa, lạnh và buồn quá. Hay là thôi, bọn mình xuống Saigon học đi...”

Tưởng nói chơi, không ngờ Lâm bảo:

“Ừ, xuống Saigon.”

Thế là hai thằng điên, mà điên thật, mua vé tàu lửa răng cưa xuống Saigon. Vào J.J. Rousseau:

“Bọn bay đâu có học đây được, về lại Đà Lạt đi. Nếu muốn học Saigon, qua Marie Curie”

“Marie Curie trường con gái mà.”

“Không năm nay, họ lấy học trò con trai.”

Xa nhau từ ngày ra trường y khoa, không gặp lại... Dòng đời run rủi, tìm mãi chẳng biết Lâm ở đâu. Mãi đến năm 2000 mới tìm ra Lâm, một thời gian không lâu, Lâm bị bạo bệnh ra đi. Nhớ Lâm mãi cho đến ngày hôm nay.

 

          Một người bạn tôi chỉ gặp có hai lần trong đời nhưng để lại trong tôi kỷ niệm khó quên. Mùa thu năm 1993, đại hội Y Nha Dược toàn thế giới được tổ chức tại Orlando, Florida. Từ phía trước đi ngược lại, có một người rẽ đám đông, đến trước mặt, nắm hai vai tôi lắc mạnh.

“Anh Tùng, lâu quá mới gặp lại anh. Anh nhớ Thìn không?” Tôi ngờ ngợ.

“Phải Thìn đi cùng mình trong toán cứu lụt miền Trung lên Phú Bổn mùa thu 1964 không?”

“Đúng đó. Mình nhớ anh rất rõ vì sau đó anh có viết bài tuỳ bút đăng trên Tình Thương, báo của sinh viên y khoa bọn mình về chuyến cứu lụt. Tuy anh không viết tên thật, chỉ để bút hiệu, nhưng mình biết anh vì mỗi buổi tối xong công tác, anh em ai cũng sửa soạn đi ngủ, mình thấy anh ngồi cặm cụi viết dưới ánh đèn tù mù của căn nhà.”

“Ừ, đúng đó Thìn. Ngày đó bọn mình kẹt lại ba tuần ở Phú Bổn, tướng bị bỏ rơi, không biết làm sao về lại Saigon. Ban đêm thì lạnh. Anh em mình dại quá, đi Phú Bổn, xứ phố núi vào giữa tháng 9 bão lụt mà không anh em nào mang theo mền. Ngày đó ngủ dưới nền xi măng. Căn biệt thự của người Pháp chủ đồn điền, bỏ hoang khá lâu, cửa sổ bể gần hết, may còn điện. Ban đêm tụi mình nằm co ro xích lại gần nhau cho đỡ lạnh. Mới đó mà gần ba mươi năm. Thời gian qua quá mau. Thìn bây giờ ở đâu, làm gì?”. Thìn lấy viết xé một miếng giấy nhỏ ghi cho tôi số phone và địa chỉ. Tôi nhét vội vào túi quần.

Tối hôm đó về nhà tìm lại mảnh giấy con đó mãi không ra. Mất địa chỉ và số phone của Thìn, chỉ biết Thìn mở phòng mạch và làm chủ tịch Cộng Đồng Việt Nam tại Seattle, Washington State.

Bẳng đi một dạo khá lâu, phải trên mười mấy năm sau mới được tín Thìn từ một người bạn. Mà lại tin thật buồn. Thìn bị bạo bệnh đã ra đi. Người bạn kể, Thìn biết ngày tháng chẳng còn bao lâu nên một hôm mở đại tiệc mời anh em trong cộng đồng, bạn bè thân quen lại ăn cơm chia tay. Trước khi vào tiệc nghe nói Thìn có xin lỗi tất cả những ai Thìn đã làm phiền lòng, và nói:” Anh chị em cứ vui chơi, xem đây chỉ là tiệc Tạm Biệt, vì chúng ta sẽ gặp lại nhau cả, có chi mà buồn”. Thói thường khi bạn bè đau, ít khi họ muốn liên lạc với bạn bè. Thìn lại làm ngược lại.

Phải đúng đó Thìn ơi, đây chỉ là buổi tạm biệt:

“ Ce n’est qu’un au revoir, mes frères ce n’est qu’un au revoir. Oui nous, nous reverrons, mes frères

 ce n’est qu’un au revoir...

Faut-il nous quitter sans espoir, sans espoir de retour? Faut-il nous quitter sans espoir de nous revoir un jour?

Formons de nos mains qui s’enlacent au déclin du jour. Formons de nos mains qui s’enlacent une chaîne d’amour. Car Dieu nous voit tous ensemble et qui va nous bénir. Car Dieu nous voit tous ensemble saura nous réunir.

Ce n’est qu’un au revoir, mes frères ce n’est qu’un au revoir”.

Thìn ơi, ngày đó so với tuổi tác anh em bây giờ, Thìn  vẫn còn rất trẻ nhưng đã hiểu rõ nghĩa lý của tử sinh. Vui vẻ đón nhận một sự việc, một đoạn đường rồi ra ai trong chúng ta cũng sẽ đi qua. Hành xử của Thìn làm mình nhớ lại nhà hiền triết Socrate, ông bị án oan. Khi biết chắc sự việc không thể thay đổi được và khi người cai tù đưa cho ông chén thuốc độc, ông bình thản uống và nhẹ nhàng ra đi. Thìn cũng xem nhẹ tử sinh, vì biết đó là thân phận con người, không có con đường nào khác.

 

          Một người bạn thân nữa trong những năm y khoa, anh Lê Ngọc Dũng. Tôi đã viết nhiều về Dũng trong “Thư gửi cho

bạn". Nay chỉ nói thêm, từ ngày xa nhau, Dũng ở lại Việt Nam, tôi lưu lạc chân trời mới, rồi tìm lại được nhau qua email, facetime, viber. Cuối cùng vẫn nhận ra rằng dù đi hay ở, cách xa nhau hai phương trời, người đi cũng buồn và kẻ ở lại cũng có chi vui.

 

          Và tôi cũng còn rất nhiều bạn vô cùng thân thương. Tôi đã gặp các anh ở quân trường huấn luyện tân binh Hoà Cầm sát núi Phước Tường, Đà Nẵng, đã gặp các anh ở quân trường Đống Đa Phú Bài, Huế, hay ở bệnh xá Trường Vỏ Bị Quốc Gia Việt Nam tại Đà Lạt. Tôi đã gặp các anh ở quân y viện Long Xuyên khi các anh về từ chiến trường Cao Lãnh, Hồng Ngự, hay Snoul, Krek, Kratie, Campuchia. Tôi đã gặp các anh ở Tổng Y Viện Cộng Hoà khi các anh về từ chiến trường Bình Long An Lộc...Vết chân các anh đã qua bốn vùng chiến thuật từ Bến Hải đến tận Cà Mau, từ Mậu Thân qua mùa hè đỏ lửa, đến tận vườn hoa Tân Phú sát thủ đô Saigon... Áo các  anh không những thấm đậm mùi thuốc súng, nhưng đã tẩm mồ hôi, nước mắt mặn, và cả máu... Và ngày 30/4/1975, một số các anh đã oanh liệt đền nợ nước vì không giử được yên vui cho những ai các anh thương yêu. Đó là năm vị tướng đã kể trên, và bao nhiêu tá, uý và anh em binh sĩ. Có quân sử nước nào trên thế giới có những anh hùng như vậy? Ôi những bạn bè và người anh hùng của tôi. Đến đây không quên nhạc sĩ Nguyễn văn Đông viết về các anh trong thiên bi hùng ca “Muôn Dặm Sơn Khê”. Đây có lẽ là một trong các bài hát hay nhất của nhạc sĩ viết về đời lính này. Xin thắp một nén hương lòng gửi đến người nhạc sĩ lính đã theo vết chân các anh trong bao năm tháng.

“Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng. Ngoài mưa khuya lê thê, qua ngàn chốn sơn khê. Non nước ơi, hồn thiêng của núi sông, kết trong lòng thế hệ, nghìn sau nối nghìn xưa. Bao ước mơ giữa khung trời phiêu lãng, chờ mùa xuân tươi sáng, nhưng mùa thắm chưa sang. Anh đến đây rồi anh như bóng mây, chốn phương trời ấm lạnh, hòa chung mái nhà tranh.

Anh như ngàn gió ham ngược xuôi, theo đường mây, tóc tơi bời lộng gió bốn phương. Nước non còn đó, một tấc lòng không mờ xóa cùng năm tháng.

 Mấy ai ra đi hẹn về dệt nốt tơ duyên. Khoác lên vòng hoa trắng cầm tay nhau đi anh, tơ trời quá mong manh. Anh hỡi anh, đường xa vui đấu tranh, giữa khung trời gió lạnh, nghìn sau tiếc nghìn xưa”. Có ai hát bài này hay hơn Hà Thanh? Chắc là không. Cô hát với lòng mến thương người lính Cộng Hòa, diễn tả hết tâm tư của nhạc sĩ Nguyễn văn Đông, nên giọng hát có thần, đem thương cảm vào lòng người nghe.

Nguyễn văn Đông vẽ lên hình ảnh người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà như những anh hùng, hiệp sĩ lãng tử, “anh đến thăm áo anh mùi thuốc súng”...”Anh đến đây rồi anh như bóng mây...”. “Anh như ngàn gió ham ngược xuôi, theo đường mây, tóc tơi bời lộng gió bốn phương”. Đẹp quá, hào hùng quá, và cũng lãng mạn quá. Thương biết mấy khi “Mấy ai ra đi hẹn về dệt nốt tơ duyên. Khoác lên vòng hoa trắng, cầm tay nhau đi anh, tơ trời quá mong manh”? Ôi, buồn biết mấy, đời người lính chiến mỏng manh như tơ trời! Có đó rồi đứt đoạn đó...Nhạc đã hay, lời cũng hay, như một bài thơ, ban Tao Đàn có thể ngâm lời ca bài này như bản tình ca tuyệt vời dành cho các anh chiến binh Miền Nam. Nay một số trong các anh đã là mây, là gió, là sấm sét, là ánh chớp sáng ngời, đi vào hồn thiêng sông núi gìn giử quê hương Việt Nam...

                      

Và còn một bài hát nữa của Nguyễn văn Đông nói về những mối tình thắm, chung thuỷ giữa người lính chiến và người vợ, hay người yêu ở hậu phương. Hà Thanh hát lên, đưa chúng ta về một thời quê hương Miền Nam khói lửa ly loạn, người trai ra đi, người thương ở hậu phương mong bước anh về. Bốn mươi bảy năm đã trôi qua, nhưng nghe Hà Thanh hát, lòng tôi vẫn dạt dào thương cảm.

“Hàng Hàng Lớp Lớp”

“Còn đây giây phút này, còn nghe tiếng hát nụ cười xinh tươi, còn trong ánh mắt còn cầm tay nhau.

Ngày mai xa cách nhau, một người gối chiếc cô phòng, còn người góc núi ven rừng, chân mây đầu gió.

Còn đây đêm cuối cùng, nhìn em muốn nói chuyện người Kinh Kha. Ngại khơi nước mắt nhạt nhòa môi em.

Người đi giúp núi sông. Hàng hàng lớp lớp chưa về. Người người nối tiếp câu thề giành lấy quê hương.

Hởi người anh thương, chưa tròn thề ước. Nhưng tình đất nước đâu phải khi cho mình dệt mộng thắm kết uyên ương.

Phương trời anh đi, xa xôi vạn lý. Đêm nằm gối súng, trông ánh trăng nhưng đôi đường ly cách trong tình thương.

Và xin em hiểu rằng, dù nơi chiến tuyến mịt mờ mưa bay, lòng anh vẫn nhớ tình người người hôm nay.

Đường đi biên giới xa, lòng này thách với tang bồng, đừng làm má thắm phai hồng buồn lắm em ơi...”

Đây câu hát’ Còn đây đêm cuối cùng, nhìn em muốn nói chuyện người Kinh Kha. Ngại khơi nước mắt nhạt nhòa môi em.” Câu hát gợi lên không biết bao nhiêu thương cảm. Anh đi như Kinh Kha không hẹn ngày về, buồn biết mấy.

 

          Và sẽ là một thiếu sót lớn nếu không nhắc đến những người thầy giáo đã đi qua đời tôi để lại trong tôi không biết bao nhiêu mến thương. Phải đến lớp tư tiểu học thời xa xưa đó tôi mới vào trường đi học thực thụ. Những gì các thầy giáo dạy tôi những năm tiểu học đã quên nhiều, nhưng tôi và chắc những bạn cùng trang lứa tôi chẳng bao giờ quên được sáu chữ viết trên tường các lớp tiểu học ngày đó. “Tiên học lể, hậu học văn”. Sáu chữ này đã đi vào tuổi thơ tôi và ở lại mãi trong tâm tư cho đến ngày hôm nay. Một con người có thể thông minh tột bực nhưng thiếu sáu chữ này trong tâm tư sẽ có thể là một con người hung dữ. Càng thông minh họ càng là mối nguy hiểm cho đồng loại.  Đọc lại lịch sử Pháp thời cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, Napoleon Bonaparte là một thiên tài trong chiến trận. Nhưng bản chất ngạo mạn trong ông đã đưa nước Pháp và Âu Châu vào cuộc chiến dai dẳng 20 năm, giết chết trên 3 triệu binh lính các bên và vô số thường dân, chưa kể đến những thương binh trong các chiến trận. Người Pháp vinh danh ông trong sử sách, xác ông được đưa vào bảo tàng Les Invalides. Sự ngạo mạn và tự tôn của ông đã đem đến không biết bao nhiêu thương đau cho rất nhiều gia đình Pháp và Âu Châu thời đó.  Tiếc thay sáu chữ :”Tiên học lễ, hậu học văn”, bây giờ đã hoàn toàn biến mất trong các trường học ở Việt Nam cũng như ở Hoa Kỳ và có thể nói cả toàn thế giới. Sáu chữ đó nằm trong những chuẩn mực đạo đức Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, trong cách đối xử giữa con người với nhau. Thiếu nó xã hội ngày hôm nay đi vào loạn lạc, vô luân, con người đạp lên nhau để sống còn.

 

          Một người thầy trung học để lại trong tôi kỷ niệm khó quên, đó là linh mục người Pháp Henri PetitJean. Vừa xong lớp đệ thất ở Đà Nẵng, ba mẹ cho tôi ra Huế học trường Providence (Thiên Hựu).

Đó là năm tôi vào lớp Quatrième. Ngày tôi sắp đi đúng vào mùa trung thu. Mẹ rất thương tôi mua cho tôi hai cái bánh trung thu. Có mùa trung thu nào tôi có bánh nhiều như vậy. Ngôi trường lớn quá với ba tầng lầu quét vôi xám trông lạnh lùng hơn là thân thiện. Mang vali vào dortoir, tôi cắt một miếng bánh, vừa đi xuống cầu thang vừa ăn. Nhưng hôm đó miếng bánh không ngon, đắng nghét trong miệng. Tôi nhớ nhà, nhớ lớp học nhỏ bé của tôi ở Đà Nẵng. Đứng giữa cầu thang, không nuốt được miếng bánh và tôi khóc. Từ dưới cầu thang đi lên, một vị linh mục người Pháp, trẻ, tóc húi cua, dong dỏng cao và gầy, cha vổ vai tôi và nói bằng tiếng Pháp:

“Học trò mới phải không, đừng khóc, vào đây với cha, vài hôm con sẽ quen thôi và sẽ có nhiều bạn tốt lắm.” Thế là năm đó tôi học với cha. Cha dạy đủ tất cả chương trình của lớp. Phòng của cha là căn phòng 4 trên 4 mét vuông với bàn làm việc, các kệ tủ đầy sách, sau này tôi mới biết ngoài sách tu trì của cha, còn lại là các sách trong Bibliothèque verte, loại sách cho thanh thiếu niên. Cha bảo tôi, ngoài giờ học bài làm bài con phải đọc thêm sách nếu muốn giỏi Pháp văn. Cha cho tôi mượn sách về đọc. Chừng năm hay bảy ngày tôi đến trả sách và cha cho tôi mượn sách khác. Một hôm trả sách xong tôi cám ơn cha định về phòng, cha cản lại, bảo tôi ngồi xuống ghế bên và kể lại câu chuyện tôi đọc trong sách vừa trả cho cha nghe. Tôi nhớ đó là cuốn “Quo Vadis”, tác giả là Henryk  Sienkiewicz, một cuốn sách dày, chữ nhỏ chi chít. Kể xong câu chuyện trong sách cha ôn tồn nói với tôi:” Tại sao con đọc bỏ băng nhiều đoạn trong sách? Khi cha đưa cuốn sách cho con, cha hy vọng con đọc từng trang, đọc để hiểu, chứ không phải đọc để lấy trang. Như vậy là con phạm lỗi không trung tín với cha vì cha tin con. Thứ hai, con nhớ, trong cuộc đời rất ít khi con có dịp để làm những việc lớn. Đa số là các việc nhỏ. Nhưng những việc nhỏ làm đàng hoàng, chính là những  việc lớn trong cuộc đời con”. Nay cha đã bỏ tôi ra đi từ rất lâu, nhưng những lời nói đó vẫn còn ở mãi trong tôi.. Cha dạy tôi bằng những lời nói ân cần, bằng những gương sáng cha làm. Tôi còn nhớ giờ géométrie, cha giảng bài toán đến khi cậu học trò kém nhất trong lớp hiểu cha mới ngưng.

Suốt năm học cha không bao giờ dạy tôi một giờ nào về giáo lý hay nói về đạo Chúa. Nhưng chính đời sống của cha đã cảm hóa tôi.

 

          Hôm nay ngồi viết những dòng này, nhớ lại tất cả các thầy cô đã đi qua đời tôi, dạy dổ tôi thành người . Đã dạy tôi “Tiên học lễ, hậu học văn”, đã dặn tôi sống người có nhân cách “Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”. Ngày hôm nay các thầy cô đã thành “người muôn năm cũ”. Không còn ai để tôi nói lời cảm tạ mến thương. Lòng thương cảm xin dâng lên các thầy cô nén hương lòng, và nguyện cầu Thiên Chúa giử mãi các thầy cô trong vòng tay yêu thương của Ngài.

 

           Và chúng ta hãy thương nhau khi còn có thể. Tôi nói đến đây những cặp vợ chồng hôm nay Thượng Đế vẫn còn thương cho có bên nhau. Khi các con đã khôn lớn, vụt bay vào vùng trời giông bão hay yên bình, bỏ lại cha mẹ già. Ngày xưa, những ngày thật xa xưa, khi chúng ta hát bài:”Oui, devant Dieu”, chúng ta trân quý nhau. Nay chúng ta còn phải “trân quý hơn như tân” nữa. Thời giờ đâu còn chờ đợi chúng ta. “Nó đi đi mất, nó chờ chờ ai”. Vì rủi một mai ngày đó tới, hoặc là ta đi trước, hoặc người bạn đời ta đi trước, sẽ là buồn biết bao nhiêu? Khi căn nhà đầy ắp kỷ niệm này, nhìn đâu ta cũng thấy người bạn đời ngày xưa nay đã bỏ ta đi, biền biệt. Ngày đó sẽ tới , nó không chừa ai. Đây là thân phận bi thương của kiếp người.

Có ai nghe danh ca Nana Mouskouri hát bài:

“ LE TEMPS QU`IL NOUS RESTE”:

Quelle importance le temps qu'il nous reste.

 Nous aurons la chance de vieillir ensemble.

 Au fond de tes yeux vivra ma tendresse.

 Au fond de mon cœur vivra ta jeunesse.

 Comme une prière du temps de l'enfance.

 Ces mots sur tes lèvres me donnent confiance.

 Je nous imagine ta main dans la mienne.

 Nos moindres sourires voudront dire je t'aime.

…

Ton pas résonne, la porte s'entrouvre.

 Mon cœur bat plus vite et je te retrouve.

 Quand nos mains se tiennent j'oublie tout le reste.

 J'ai l'impression même que le temps s'arrête.

…

 Je nous imagine ta main dans la mienne.

 Nos moindres sourires voudront dire je t'aime...”

(Thời gian còn lại của chúng ta vô cùng quan trọng.

Chúng ta có cơ duyên cùng già với nhau

Sự dịu dàng thương cảm của anh sẽ mãi mãi sống trong đáy mắt em

Tuổi trẻ của em cũng mãi sống trong tim anh

Như một lời nguyện của tuổi thơ

Những lời nói trên môi em cho anh lòng tin yêu

Anh đã thấy tay em trong tay anh

Những nụ cười của chúng ta muốn nói cho em biết rằng anh yêu em.

…

Bước chân em vọng lại và cánh cửa hé mở

Tim anh đập nhanh và anh tìm thấy em

Khi tay chúng ta đan nhau, anh quên hết tất cả

Anh có cảm tưởng thời gian ngừng trôi.

…

Anh đã thấy tay em trong tay anh

Những nụ cười nhẹ của chúng ta nói rằng anh yêu em.”

Có những câu thật buồn trong bài hát này tôi không viết ra đây. Vì đây cũng chỉ là một cuộc tạm biệt. Rồi những kẻ yêu nhau cũng sẽ gặp lại nhau trong niềm hân hoan nơi miền vĩnh cửu, nơi không có hận thù, bệnh tật, chiến tranh, dịch bệnh. Đây là vùng đất yêu thương vĩnh viễn, nơi những người ngày xưa đã yêu thương nhau trên trần thế sẽ đoàn tụ nơi đây. Chỉ có khổ là người ra đi để lại buồn khổ, sầu muộn cho người ở lại. Ai cũng biết “tu là cõi phúc, tình là dây oan”, nhưng ai cũng luỵ vì tình.

 

          Xin chấm dứt bài viết nơi đây. Lòng dặn lòng, hãy yêu thương khi chúng ta còn có thể, vì ngày mai chắc chi ta sẽ gặp lại ai đó một lần nữa. Cuộc sống ngày hôm nay mỏng manh như sợi tơ trời. Tất cả đều vô thường. Ta có đó rồi mất đó.

Của cải giử lại cho riêng ta sẽ mất. Chỉ có của cải chúng ta cho đi là còn. Thời gian cũng vậy, thời gian chúng ta không giử lại được dù chỉ một phút, một giây. Chỉ có thời gian chúng ta dùng để yêu thương những kẻ đã đi qua đời ta mới tồn tại vĩnh viễn.

 

                                                                                 P H Ư Ơ N G   T U Ấ N

Comments

Popular posts from this blog

December 18, 2023 Hài Nhi Bêlem. Hang đá, máng cỏ đầu tiên mùa đông năm 1223.

August 27, 2026. Thư của người tình già viết ngày 14/6/2026 nhân ngày sinh nhật em (Kim Chi)...

October 28, 2023 Con chính là tất cả cuộc đời của mẹ.