OCTOBER 7, 2026. NHỮNG NGÀY THÁNG KHÔNG QUÊN, Phương Tuấn
NHỮNG NGÀY THÁNG KHÔNG QUÊN
Phương Tuấn
Một buổi cơm tối, nhìn hạt cơm dễ thương trong chén, mới nhớ đây là gạo đầu mùa với nhãn hiệu “25 ST, Cánh đồng quê hương”. ST là Sóc Trăng. Hèn chi cơm thơm ngon, hạt gạo khi chưa nấu nhỏ gần bằng nửa hạt gạo Thái Lan thường mua.
Cầm chén cơm lại nhớ đến mẹ những ngày xưa, thật xa trong ký ức, ngày đó tôi 5 tuổi, mỗi lần ăn thường ngồi gần mẹ, có gì ngon mẹ bỏ vào chén cho tôi, nếu là cá, mẹ lấy xương ra trước sợ tôi hóc xương. Em trai tôi sau tôi 4 tuổi còn nằm nôi.
Nhưng nhớ mẹ nhất là lời mẹ:
’Hạt cơm là hạt ngọc trời nghe con, ăn chớ bao giờ bỏ mứa. Sau này con lớn lên khi nào bới cơm trong nồi bỏ vào chén, con tính ăn bao nhiêu thì bỏ vào chén bấy nhiêu, và nhớ vét hết chén nghe con”.
Còn quá nhỏ tôi không hiểu tại sao mẹ nói hạt “cơm là hạt ngọc trời” cho đến vài năm sau về quê nội chứng kiến cảnh con trâu đi trước kéo cày hay bừa, người nông dân theo sau, cả trâu và người mệt nhọc trên đồng sâu để làm vữa đất, cảnh người nông dân vất vả tát gàu sòng để đưa nước vào ruộng cho đất mềm, cúi rạp mình bán lưng cho trời, bán mặt cho đất để cấy mạ, những cảnh vất vả gặt lúa khi đến mùa lúa chín đầy đồng, đem về phơi khô, đập cho hạt rơi ra, xay cho lúa tróc vỏ, bỏ vào cối và hai nông dân dùng cối giả cho hạt gạo bớt cám…Ôi không biết bao nhiêu công đoạn để tôi có bát cơm trên bàn, công khổ đổ mồ hôi, sôi nước mắt của cả người và vật để tôi có chén cơm ngon. Khi người khổ, con trâu càng khổ hơn. Tội nghiệp, trâu thật hiền lành nhẫn nại, khi cổ bị tròng dây kéo cày hay bừa không thấy nó nổi nóng, cam chịu, có lẽ nó hiểu đây là bổn phận giúp người chủ nông dân đã nuôi nấng nó.
Lần mẹ tôi nói câu dặn dò đó xảy ra một ngày mùa đông, đó là bữa cơm tối dưới ánh đèn vàng tù mù một thời xa xưa lắm. Đó là những ngày cha mẹ chỉ làm vừa đủ ăn, chưa khấm khá mấy, nhưng cảnh gia đình thật ấm cúng. Khi tấm rèm trước nhà sập xuống che những cơn gió lạnh đầu đông, cha mẹ anh em quây quần bên chiếc bàn tròn, chia nhau bữa cơm tối. Lâu lắm trên bàn ăn mới có một dĩa trứng chiên, Trứng gà thời xa xưa đó là món quý, có tiền cũng không mua được mỗi ngày.
Vào một ngày hè tôi về thăm quê nội, cả cánh đồng trước nhà bà nội một màu vàng óng ả mượt mà, khi có gió thổi qua, cánh đồng ngả nghiêng theo gió đưa mùi thơm lúa chín tháng 8 về. Cảnh đồng quê an bình, rộn rã tiếng cười mùa gặt. Tối hôm đó một bữa cơm gạo đầu mùa được đặt trên một chiếc nong thật lớn trước nhà, không có ánh đèn nhưng trăng tròn vằng vặc, gió mát từ đồng nội thổi qua, ngồi ăn bát cơm tháng 8 đầu mùa chỉ với canh rau, mấy con cá kho khô, nhưng trong đời có lẽ là bữa ăn tuyệt diệu nhất.
Nhưng sự đời không mãi yên bình.
14/8/1945 quân Nhật đầu hàng, quân đội Anh-Ấn đến giải giới quân Nhật, và quân Pháp đổ bộ trở lại Đông Dương.
Ngày 19/8/1945 Việt Minh cướp chính quyền, không lâu sau, ngày 23/8/1945 giao tranh nổ ra giữa quân đội Pháp và bộ đội Việt Minh. Ngày đó ba tôi đã có một cái radio hiệu Philips, có lẽ một trong vài cái duy nhất tại phố Hàn, thành phố ngày đó vẫn còn mang tên Tourane. Thằng bé con là tôi được nghe các bài hát từ máy phát thanh mỗi tối. Nhiều nhất là bài “Tiếng súng Nam Bộ” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận:
“Tiếng súng vang sông núi Miền Nam, ầm đất nước Việt Nam. Tiếng súng vang lừng sông núi dục ta ra tranh đấu. Tiếng súng vang sông núi Miền Nam, ầm đất nước Việt Nam. Ta muốn băng mình tới phương Nam, diệt hết quân hung tàn…”
Ngày đó có phong trào Nam Tiến và nhạc sĩ Phạm Duy đã có bài “Xuất quân”, sau này vẫn còn hát vang vang sau khi ông “dinh tê” về Hà Nội. Bài này được ông viết năm 1945:
“Ngày bao hùng binh tiến lên. Bờ cõi vang lừng câu Quyết chiến. Bước uy nghiêm theo tiếng súng đi tung hoành…”.
Văn Cao cũng cho ra nhiều bản nhạc trong năm 1945, như “Chiến sĩ Việt Nam”, lúc đầu mang tên “Chiến sĩ Việt Minh”:
“Bao chiến sĩ anh hùng, lạnh lùng vung gươm ra sa trường. Quân xung phong, nước Nam mong chờ trong tay ngươi hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời…”, và vô số các bài hát khác như: ”Không quân Việt Nam”, “Hãi quân Việt Nam”, “Bắc Sơn”…
Lưu Hữu Phước với “Tiếng gọi sinh viên”, sau này VNCH đổi thành Quốc ca của Miền Nam chúng ta, và ca khúc “Xếp bút nghiên”:
“Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu, xếp bút nghiên coi thường công danh như phù vân, sơn hà nguy biến, tiến ta tiến…”
Báo chí thời đó đã kể chuyện cậu bé Lê văn Tám, tự tẩm xăng vào người thành cây đuốc sống, và chạy đi đốt cây xăng giặc Pháp. Bài này do Trần Huy Liệu viết. Sau này giáo sư sử học Phan Huy Lê đã viết lại lời phản tỉnh của Trần Huy Liệu nói là chuyện bịa đặt, nhưng lạ là nay vẫn có công viên Lê văn Tám ở Saigon.
Ba tôi tối nào cũng bị gọi đi họp meeting như các người đàn ông trong khu phố, và lần đầu tiên tôi nghe ba tôi hát:
“80 năm sống đời tối tăm. Ta diệt trừ người thù, giết người thù, loài lang sói nén đè chúng ta. Ta diệt trừ người thù, giết người thù…”. Bài hát này do nhạc sĩ Lưu Hữu Phước viết năm 1945. Ngày trước ba chỉ ngâm thơ, hát vài câu vọng cổ hay cải lương, ông không hát tân nhạc bao giờ. Đúng là một cuộc đổi đời!…
Chính những bài hát bừng bừng khí thế đấu tranh như vậy đã làm cả nước bừng tỉnh, và ai thời thanh niên thanh nữ thuở đó cũng muốn tham gia đánh giặc. Nhưng buồn thay họ như bị tình cảm che lấp lý trí quên mất ai là người dẫn đường đã lôi kéo cả dân tộc vào một cuộc chiến đau thương 30 năm máu lửa tương tàn.
Từ 1947 quân Pháp đã dần dần đẩy quân Việt Minh ra khỏi các thành phố lớn, và sau này khi vua Bảo Đại trở về làm Quốc trưởng vào năm 1949, một số người Việt Quốc gia đã tham gia quân đội Pháp. Tuy vậy một số phần tử thân Việt Minh như Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà, Lý văn Sâm, Dương Tử Giang vẫn còn ở lại Saigon. Tiêu biểu nhất là Vũ Anh Khanh, ông viết những tác phẩm nổi tiếng như “Nửa Bồ Xương Khô”, “Cây Ná Trắc”, “Sông Máu”, “Đầm Ô rô”, “Bên Kia Sông”…Tác phẩm nổi tiếng của ông là bài thơ “Hận Tha La”, một đoạn được trích đăng trong cuốn tiểu thuyết ”Nửa bồ xương khô”, sau này nhạc sĩ Dzũng Chinh phổ thành bài hát “Tha La Xóm đạo”. Xin trích một đoạn nhỏ của bài thơ rất dài để thấy một thời ly loạn buồn thương:
Đây Tha La xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm một dạo
Giữa mùa nắng vàng hanh.
Ngậm ngùi Tha La bảo:
Đây rừng xanh rừng xanh
Bụi đùn quanh ngõ vắng,
Khói đùn quanh nóc tranh.
Gió đùn quanh mây trắng,
Và lửa loạn xây thành.
Viễn khách ơi!
Hãy dừng chân cho hỏi,
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng.
Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng,
Có trái ngọt, cây lành, im bóng lá,
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ.
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây? Khách hỡi? Có ai chờ?
Ai đưa đón?
Xin thưa, tôi lạc bước!
Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
Không có ai chờ, ai đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
Tìm hoa rụng lạc loài bên vệ cỏ,
Nhìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió,
Gạo rưng rưng, nghình hoa máu rưng rưng.
Nghìn cánh hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng.
Tha La hỏi:
Khách buồn nơi đây vắng?
Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!…
Năm 1950 bị truy lùng ông trốn vào chiến khu Nam Bộ. Tập kết ra Bắc sau Hiệp định Genève 1954, nhưng thất vọng với những gì ông từng mong đợi, vượt biên vào Nam qua sông Bến Hải và bị bắn chết giữa dòng năm 1956, lúc ông 30 tuổi.
Chiến tranh giữa quân đội Việt Minh và quân đội Pháp Việt trở nên ác liệt bắt đầu từ 15/3/1949 đến 30/4/1949 khi Việt Minh đánh Đông Khê. Việt Minh gọi đây là chiến dịch Cao-Bắc-Lạng hay Hồng Phong 2, liên quân Việt Pháp gọi là chiến dịch biên giới, quân Việt Pháp phải rút lui cả một vùng biên giới rộng lớn tiếp giáp Trung quốc từ Cao Bằng đến Lạng Sơn, và chính thất bại này cho quân đội Việt Minh mở cửa biên giới Trung Việt nhận khí giới và viện trợ từ Trung Cộng. Cuộc chiến cứ thế tiếp diễn cho đến ngày quân Việt Minh chiếm được Điện Biên Phủ. Thế rồi chia đôi đất nước lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới Nam Bắc.
Hơn 2 triệu dân từ Bắc di cư vào Nam, và cuối năm 1954 có một vài gánh phở Bắc trên phố Hàn. Ngày đó mẹ mua cho tôi một tô phở gánh. Cảm giác kỳ diệu khi ăn tô phở Bắc lần đầu tiên. Đó là tô phở đầu tiên trong đời một thằng bé như tôi. Ông phở gánh, cũng là người đầu tiên tôi thấy một người đàn ông đi bán dạo trên phố Hàn quê tôi. Có thể nói thời gian 1954, 1955 những người bán dạo trên đường là những trẻ em bán đậu phộng rang, bán cà rem cây, hay các bà với những gánh chè đêm, hay gánh bún bò sáng, hay các bà ngồi bán dọc đường phố những món ăn như bún thịt nướng, bún nem lụi, nhưng tuyệt nhiên không thấy các ông đi bán dạo bao giờ.
Một người đàn ông gầy, da rám nắng, đầu đội chiếc mũ “Feutre” bạc màu, bận chiếc sơ mi cũ và quần ngắn kaki màu vàng cũng bạc màu như chiếc nón ông đội.
Ôi tô phở nhiệm mầu, tô phở tuyệt diệu, một mùi thơm nhẹ của hồi, của quế, của tiêu chưa ăn, chưa nếm đã làm người bưng tô phở nhỏ trên tay thấy lòng mình được món ăn quý hiếm. Vài miếng thịt bò mỏng trên các miếng phở trắng, vài cọng hành cắt nhỏ, nước phở trong, vài hạt tiêu nhỏ, thế thôi, không cầu kỳ như những tô phở sau này tôi được ăn trong các quán phở trên đường Hiền Vương hay Pasteur Saigon. Tô phở gánh đầu tiên là một kỷ niệm dễ thương vẫn còn trong ký ức khi nhớ về những người Bắc Việt di cư năm 1954 đến phố Hàn.
Thời gian chầm chậm trôi qua, tôi lớn lên cùng đất nước. Miền Nam có một khoảng thời gian thanh bình vài năm trước khi khói lửa trở lại dữ dội. Thời gian thanh bình đó giúp tôi có dịp lên con tàu lửa Bắc Nam xuôi về quê Miền Trung. Tàu vẫn còn chạy trên đường “rail” bề ngang một mét thời Pháp thuộc, nên không thể nhanh được, nhưng đối với tôi, đó là điều tốt để ngắm cảnh ruộng đồng, cảnh đẹp hoang sơ của bãi biển Cà Ná, những làng rợp bóng dừa ở Tam Quan, Bồng Sơn, để thấy đất nước có một bờ biển dài chạy suốt từ Nam ra Bắc tiếp giáp biển Đông. Ôi, đất nước “rừng vàng, biển bạc”!
Những năm cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960 là những năm thanh bình nhất Miền Nam. Đâu đâu cũng vang lên tiếng hát lời ca, ca tụng đất nước thanh bình.
Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ có bài hát nổi tiếng ”Gạo trắng Trăng Thanh”, ông viết vào năm 1956, mở đầu bằng câu:
”Ai đang đi trên đường đê, tai lắng nghe muôn câu hò đê mê. Vô đây em dù trời khuya anh vẫn đưa em về…”
Nhưng con nít Saigon đổi lời thành nhạc chế với câu:
”Ai đang đi trên cầu Bông, rớt xuống sông ướt cái quần ni lông…vô đây em, trời về khuya anh sẽ đưa em về…” Một nhạc sĩ khác mới đây chế thành: “Vô đây em, chờ quần khô anh sẽ đưa em về…”
Nhạc sĩ Lam Phương với bài ca “Duyên Kiếp” theo điệu Bolero rất thịnh hành thời đó, ông viết năm 1961, bài hát mở đầu:
”Em ơi nếu mộng không thành thì sao? Non cao đất rộng biết đâu mà tìm…”
Con nít chế thành:
”Em ơi nếu mộng không thành thì sao, mua ve thuốc chuột uống vô rồi đời…”
Đây là nét văn hoá dân gian truyền khẩu rất phổ biến trong thời xa xưa đó gọi là nhạc chế, hay vè con nít rất thịnh hành biến lời ca thành những câu hóm hỉnh, vui nhộn, có phần bá đạo…
Một năm dự bị Y khoa, và 6 năm y khoa qua nhanh trong niềm vui học tập cùng thầy cùng bạn, như cá lượn trong nước, lòng tràn ngập niềm vui, mong ngày mai ra giúp đời. Ra trường quân đội gọi nhập ngũ ngay Khóa 8 Y sĩ Trưng tập. Bốn tháng quân trường thoải mái, không hành xác như quân dịch tại Trường Võ Khoa Thủ Đức. Đúng là lính kiểng, ba gai. Mới vào quân trường đã đeo hai bông mai vàng cấp bậc trung uý, quân hành lộn xộn, không đều bước, ồn ào, vô trật tự khi di hành. Lương tháng trung uý 6,000 đồng thời đó, cộng thêm 6,000 đồng lương bằng y khoa bác sĩ, như vậy là cao lắm. Ngoài đời một tô phở 5 hay 6 đồng, tiêu thoải mái. Buổi tối nghỉ, tự do, tha hồ kéo một thằng bạn thân xuống các quán gia binh nhậu cháo gà hay hột vịt lộn, uống la de. Chiều thứ bảy lên xe lam Lambretta về Saigon du hí, thăm gia đình. Sau sáu tuần học Chiến tranh chính trị là chọn đơn vị.
Vào đơn vị với 12,000 đồng lương Y sĩ trung uý cũng tạm đủ với gia đình có vợ con. Chín năm quân đội, tuy đất nước chiến tranh, nhưng có thể nói đó là những năm sung mãn và mãn nguyện nhất trong đời làm người y sĩ lo cho thương bệnh binh, không còn việc gì phải lo lắng, cứ thế cuộc đời trong quân ngủ mau chóng trôi qua. Chín năm như một giấc mộng dài, nhìn lại để thấy thương nhất các anh thương binh về từ chiến trận tàn khốc. Ngày ở Quân Y viện Long Xuyên, thường nhận các anh về từ chiến trường Hồng Ngự, Sa Đéc, và khi có cuộc chiến xâm nhập Vùng R của Việt Cộng tại Campuchia, thương binh về từ Krek, Snoul, ngày đêm. Long Xuyên hoàn toàn vắng bóng Việt Cộng vì đây là lãnh thổ Hoà Hảo…Ngày ở Tổng Y Viện Cộng Hòa thương binh về từ mặt trận Bình Long, An Lộc. Đó là mùa hè đỏ lửa 1972. Trận chiến bùng nổ dữ dội, ngoài mặt trận An Lộc, Vùng 2 với Kon-Tum, và Vùng 1 với Đông Hà Quảng Trị. Ngày đó chúa nhật tôi thường ghé trước Toà Đô Sảnh Saigon, xem triển lãm các vũ khí thâu thập được của VC và hình vinh danh anh hùng không quân diệt xe tăng địch, đó là anh Trần Thế Vinh, đại uý phi công, phi đoàn 518, Quân đoàn 1, Anh lập kỷ lục, bay nhiều ngày liên tiếp trong các ngày đầu tháng 4/1972 với máy bay cường kích Skyraider, hy sinh ngày 9/4/1972 lúc anh 25 tuổi.
Mới đó mà 51 năm qua từ ngày 30/4/1975. Đêm qua tôi nằm mơ về căn nhà villa của ba mẹ trên đường Phan Châu Trinh, phố Hàn, Đà Nẵng. Ôi căn nhà đầy ắp kỷ niệm ấu thơ, biết bao giờ tôi về lại phố Hàn để dừng lại trước căn nhà, nhớ bao nhiêu người thân trong đó có ba mẹ đã “ra đi”, hay là chẳng bao giờ? Ngày mai. Cuộc đời tôi sẽ ra sao? Tôi không dám nghĩ tới nhưng nhớ đến đoạn Thánh Kinh:
"Hãy xem loài chim trời: chẳng có gieo, gặt cũng chẳng có thâu trữ vào kho tàng, mà Cha các con trên trời nuôi nó. Các con há chẳng phải là quý trọng hơn loài chim sao?"
"Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào chúng không làm lụng, không kéo sợi, thế mà, Thầy bảo cho các con biết, ngay cả vua Sa-lô-môn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy.” Matthew 6:26-29
Nhớ đoạn Kinh Thánh này tôi lại chìm vào giấc ngủ cho đến khi ngoài vườn những chú chim hót mừng một Ngày Mới đẹp trời trên thành phố nhỏ Windermere, Florida.
Phương Tuấn
Comments
Post a Comment